Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Đường cong KUZNETS và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với chất lượng môi trường

Cập nhật lúc: 16/09/2013 10:17:45 AM

1. Đường cong Kuznets về môi trường


Đường cong Kuznets (EKC) thường được sử dụng để biểu thị mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường. Nó dựa trên giả thuyết mối quan hệ chữ U ngược giữa sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người và thước đo của chất lượng môi trường


Hình dạng của đường cong có thể giải thích như sau: khi GDP bình quân đầu người tăng thì dẫn đến môi trường bị suy thoái; tuy nhiên, khi đạt đến một điểm nào đó, thì tăng GDP bình quân đầu người lại làm giảm suy thoái môi trường.

Một vài nhận xét về đường cong Kuznets:


•    Ở mức thu nhập thấp, việc giảm nhẹ ô nhiễm khó có thể thực hiện được bởi các cá nhân thường có xu hướng sử dụng khoản thu nhập hạn hẹp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cơ bản của mình.


•    Khi mức thu nhập đạt đến mức độ nhất định, các cá nhân bắt đầu xem xét đến việc cân nhắc lựa chọn giữa chất lượng môi trường và tiêu dùng, dẫn đến thiệt hại môi trường gia tăng nhưng với tốc độ thấp hơn;


•    Sau khi đạt đến ngưỡng chuyển đổi, chi tiêu cho việc xử lý chất thải sẽ tăng cao, bởi vì mỗi cá nhân đều mong muốn cải thiện chất lượng môi trường bằng việc tiêu dùng nhiều hơn và chất lượng môi trường bắt đầu được cải thiện cùng với sự tăng trưởng kinh tế .


Các cách giải thích khác về hình dạng của đường cong EKC:


•    Tiến bộ công nghệ: Ban đầu các công ty tập trung vào mở rộng sản xuất với mức độ nhanh nhất có thể, nhưng khi công nghệ phát triển thì quá trình sản xuất trở nên sạch hơn và do đó việc sử dụng nguồn lực cũng hiệu quả hơn.


•    Thay đổi hành vi: Ban đầu xã hội thích mức tiêu dùng cao mà không để ý đến cách thức tiêu dung, tuy nhiên, sau đó đã có sự xem xét nhiều hơn đến các yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, trong đó có môi trường;


•    Mô hình tăng trưởng của Lewis: Mô hình phát triển của bất kỳ nền kinh tế nào đều được đặc trưng bởi mô hình thay đổi của các hoạt động kinh tế.


+ Giai đoạn 1: Xã hội tập trung nguồn tài nguyên cho các lĩnh vực sơ cấp (khai thác, nông nghiệp) để làm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng.


+ Giai đoạn 2: Nguồn tài nguyên được chuyển sang cho các lĩnh vực thứ cấp (sản xuất), bởi vì các nhu cầu cơ bản được đáp ứng và việc tiêu thụ nhiều hơn hướng đến các sản phẩm tiêu dùng.


+ Giai đoạn 3: Xã hội chuyển từ lĩnh vực thứ cấp sang lĩnh vực thứ 3 (cao cấp hơn - dịch vụ) có đặc trưng là mức độ ô nhiễm rất thấp .


Tuy nhiên, mô hình này ít được áp dụng trong thế giới toàn cầu hóa ngày càng cao mà ở đó việc chuyển từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 3 có thể diễn ra là kết quả của quá trình chuyển giao chứ không phải là do sự suy giảm mức độ ô nhiễm.


Mối quan hệ trong đường cong Kuznets về môi trường đầu tiên được quan sát ở một số thành phần ô nhiễm trong không khí (như các hạt lơ lửng và NOx) và ngưỡng chuyển đổi; hoặc các điểm ở xa hơn khi mà tăng GDP bình quân đầu người sẽ dẫn đến sự giảm phát thải – ước tính 5.000 USD . Những nghiên cứu sau đó đã ước tính ngưỡng chuyển đổi thường ở mức cao hơn , nhưng tất cả đều cho thấy bằng chứng rằng đường EKC áp dụng cho một tập hợp lớn các biến về môi trường.


Các cuộc nghiên cứu mới đây nhất ước tính ngưỡng chuyển đổi ở mức 34.000 USD. Theo đó, những nước phát triển tương đối, có thể kỳ vọng đạt tới điểm gây ô nhiễm cao nhất vào giữa thế kỷ này - và hiện tại chỉ 10% đang tiếp cận đến điểm này và sự phát thải của những nước đó sẽ không trở lại mức hiện tại trước khi thế kỷ XXI kết thúc.


Mặt khác, chính sách cực đoan của đường EKC hàm ý sẽ khuyến khích tăng trưởng kinh tế và tránh các quy định môi trường tốn kém – đặc biệt đối với các nước phát triển đã đạt được ngưỡng chuyển đổi . Một số người cho rằng, việc thực hiện sớm các quy định về môi trường chặt chẽ có thể tác động không tốt đến sự tăng trưởng và sẽ làm tăng thiệt hại môi trường trong dài hạn.


Tuy nhiên, có nhiều lý do để đưa ra câu hỏi về sự liên quan của các giả thuyết về đường EKC trong việc hoạch định chính sách:


• Thứ nhất, định nghĩa về chất lượng môi trường thường được sử dụng trong các phân tích về đường EKC đều dựa trên một tập hợp giới hạn về các chất gây ô nhiễm. Do vậy, các kết luận rút ra từ những phân tích này không được áp dụng cho tất cả những loại thiệt hại môi trường. Ví dụ, không có chứng cớ nào cho thấy quan hệ đường EKC trong Dấu chân sinh thái (Ecological Footprint - phương pháp đo lường tổng hợp những sức ép của loài người tác động lên môi trường), trừ khi việc tiêu thụ năng lượng không được tính trong phương pháp này (Caviglia-Harris et al, 2009). Mối quan hệ Kuznets về môi trường thể hiện rõ nhất đối với các chất gây ô nhiễm gây ra những ảnh hưởng đáng kể tại địa phương phát thải. Mặt khác, những ảnh hưởng từ carbon và các khí nhà kính mang tính toàn cầu và có sự lan tỏa, sự phát thải tiếp tục tăng lên khi tăng thu nhập bình quân đầu người - ngay cả đối với các quốc gia giàu có.


•  Thứ hai, các bằng chứng kinh tế đưa ra ủng hộ đường EKC được cho là kém tin cậy và thiết thực so với những quan điểm trước đây . Ví dụ, việc lựa chọn mô hình sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa thu nhập và ô nhiễm có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phân tích.


• Thứ ba, sự tồn tại của “hiện tượng trễ” (hysteresis) có thể làm giảm mức độ tương quan của đường EKC tới các chính sách môi trường . Đặc biệt, chi phí để khắc phục thiệt hại và cải thiện chất lượng môi trường khi mà nền kinh tế đã vượt qua ngưỡng chuyển đổi có thể cao hơn đáng kể so với chi phí phòng ngừa thiệt hại hoặc thực hiện việc giảm nhẹ ô nhiễm trước đó. Ví dụ, khi làm sạch dòng sông bị ô nhiễm, ngay từ đầu, chi phí để phòng tránh tình trạng ô nhiễm thấp hơn hẳn chi phí làm sạch phát sinh sau này.


• Thứ tư, người ta chỉ ra rằng, những quốc gia với mức độ giàu có như nhau nhưng lại hành động tương đối khác nhau, không có bất kỳ dấu hiệu rõ ràng hoặc có hệ thống của sự hội tụ . Ngoài ra, điều này còn cho thấy phần đi xuống của đường EKC chỉ tồn tại trong nền kinh tế mà sự bất bình đẳng ít hơn và phân phối của cải đồng đều một cách tương đối.


Do vậy, những bằng chứng về mối quan hệ của đường EKC biểu hiện cho một số quốc gia và một số chất ô nhiễm nhất định, EKC không thể khái quát hoá cho tất cả những loại thiệt hại môi trường trên tất cả các quốc gia cũng như các mức độ thu nhập. Hơn nữa, EKC bị hạn chế để dự đoán hiệu quả môi trường khi các nước phát triển.


2. Quan điểm đánh đổi về mối quan hệ giữa kinh tế - môi trường


Có những lý thuyết đánh đổi khác nhau biểu hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường.


Lý thuyết giới hạn xem xét khả năng vi phạm ngưỡng môi trường trước khi nền kinh tế đạt tới điểm chuyển đổi EKC. Nhà bình luận Arrow và đồng sự (1996) cho thấy nguy cơ của những thay đổi nhỏ có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng, nghĩa là nếu chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế để cải thiện môi trường có thể gây phản tác dụng. Chẳng hạn như, trong bối cảnh của sự đa dạng sinh học, tăng chi phí để bảo tồn đa dạng các loài sẽ không thể tái tạo ra các loài tuyệt chủng . Lý thuyết giới hạn định nghĩa mối quan hệ kinh tế - môi trường về khía cạnh thiệt hại môi trường khi chạm ngưỡng trên mà tại đó sự sản xuất có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế (xem hình dưới đây) .


Một lý thuyết khác đặt vấn đề sự tồn tại của ngưỡng chuyển đổi, và xem xét khả năng thiệt hại môi trường sẽ gia tăng khi nền kinh tế phát triển (xem hình 2.2b) . Điều này tương tự với “quan điểm những chất độc hại mới” , khi mà sự phát thải chất gây ô nhiễm hiện tại đang giảm xuống đi kèm với tăng trưởng kinh tế tăng cao, tuy nhiên, những chất gây ô nhiễm mới thay thế cho chúng lại tăng lên.


Stern (2004) đề cập đến mối quan hệ có thể xa hơn giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh quốc tế ban đầu làm gia tăng thiệt hại môi trường, đạt tới điểm mà các quốc gia phát triển bắt đầu giảm tác động môi trường của họ đồng thời “thuê” các nước nghèo hơn thực hiện các hoạt động gây ô nhiễm. Trong trường hợp kịch bản tốt nhất, kết quả thực tế cho thấy tình trạng không cải thiện (hình 2.2c). Mô hình này còn được gọi là “cuộc đua xuống đáy”.


Nguồn: Bài nghiên cứu số 2 “Tăng trưởng kinh tế và môi trường” - Chuỗi phân tích và dẫn chứng của Defra (Bộ Môi trường, thực phẩm và các vấn đề nông thôn Vương quốc Anh), 2010.

Trích nguồn:NCSEIF
Tác giả: Hà Linh
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202