Chính sách - Pháp luật > Bình luận chính sách

Tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở một số địa phương năm 2016

Cập nhật lúc: 06/04/2017 04:56:00 PM

1. Những kết quả đạt được

- Về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

Các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường đã được Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ban hành đúng quy định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cho công tác xây dựng, hoạch định và triển khai các kế hoạch trong quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh, đồng thời góp phần làm đơn giản, minh bạch hóa các thủ tục hành chính ở địa phương.

- Về lĩnh vực đất đai, đo đạc bản đồ:

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) đạt tỷ lệ 100%. Trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cơ bản tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật, cấp lần đầu cơ bản hoàn thành mục tiêu đặt ra (theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội khóa XIII). Việc lưu trữ, cung cấp thông tin đo đạc bản đồ đảm bảo đúng theo quy đinh của pháp luật, góp phần tăng cường hiệu quả vào công tác quản lý đất đai trên địa bàn các tỉnh, thành phố.

- Về lĩnh vực môi trường, tài nguyên nước: Các tỉnh, thành phố đã quan tâm, chỉ đạo thực hiện việc lập và triển khai quy hoạch về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước; tăng cường tổ chức tuyên truyền phổ biến pháp luật, thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định; thủ tục cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép về môi trường, tài nguyên nước đã được các Sở Tài nguyên và Môi trường công khai đăng tải trên trang thông tin điện tử tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân dễ tiếp cận để thực hiện theo quy định.

- Về lĩnh vực khoáng sản: Công tác quy hoạch thăm dò, khai thác, khoanh định khu vực cấm, khu vực đấu giá và không đấu giá quyền khai thác khoáng sản được các tỉnh, thành phố thực hiện đúng theo quy định của pháp luật; việc cấp phép hoạt động khoáng sản cũng đã được Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện theo đúng thẩm quyền.

- Về công tác thanh tra, kiểm tra: Việc xây dựng chương trình, kế hoạch công tác thanh tra, kiểm tra của các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Sở Tài nguyên và Môi trường đã bám sát định hướng của Bộ và Thanh tra Chính phủ, tập trung vào những vấn đề nổi cộm về tài nguyên và môi trường cũng như chi tiết đến từng đối tượng, địa điểm và thời gian theo quy định.

2. Một số tồn tại, hạn chế

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về kết quả thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước tại 6 tỉnh/thành phố (gồm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Nam Định, Đắk Lắk, Bình Định, Bình Dương) cho thấy:

2.1. Việc ban hành văn bản pháp luật theo thẩm quyền

- Về ban hành văn bản quy phạm pháp luật tài nguyên và môi trường: 50% số tỉnh, thành phố chưa ban hành văn bản quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ (quy định tại Nghị định số 45/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015); 17% số tỉnh, thành phố chưa ban hành hướng dẫn thực hiện các quy định về quản lý, bảo vệ khoáng sản và quản lý hoạt động khoáng sản (quy định tại Điều 81 Luật Khoáng sản  năm 2010); 17% số tỉnh, thành phố chưa ban hành văn bản thực hiện nhiệm vụ (quy định tại Điều 71 Luật Tài nguyên nước năm 2012).

- Về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: 100% số tỉnh, thành phố chưa thường xuyên tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường; nội dung tuyên truyền còn hình thức, chưa đa dạng và chưa phù hợp với thực tế của các đối tượng được tuyên truyền; kinh phí để phục vụ cho công tác tuyên truyền văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường còn hạn chế.

2.2. Việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường

a. Lĩnh vực đất đai:

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

100% số tỉnh/thành phố lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh còn chậm. 50% số tỉnh/thành phố thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất cao hơn và không đúng với chỉ tiêu trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt. 33% số tỉnh/thành phố giao đất cho các dự án xây dựng khu nhà ở, khu du lịch - thương mại và sản xuất, kinh doanh không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. 50% số tỉnh/thành phố giao đất, cho thuê đất khi chưa lập danh mục dự án công trình được phê duyệt hoặc giao đất cho thuê đất không phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. 50% số tỉnh/thành phố còn tình trạng xác định nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất, hạn mức đất ở, nghĩa vụ tài chính để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót dẫn đến thất thoát cho ngân sách nhà nước hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của công dân. 50% số tỉnh/thành phố còn tình trạng các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hầu hết đều được xác định giá đất theo phương pháp giá trị thặng dư mà không áp dụng phương pháp so sánh đã gây thất thu cho ngân sách nhà nước…

Ngoài ra, qua việc kiểm tra tình hình quản lý sử dụng đất cho thấy:

100% số tỉnh/thành phố lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh còn chậm. Có 27% số tỉnh/thành phố xây dựng quy hoạch sử dụng đất thiếu tính khoa học, chưa bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chưa kết nối chặt chẽ giữa quy hoạch ngành với quy hoạch lãnh thổ. Có 30%  số tỉnh/thành phố chưa có sự thống nhất về các chỉ tiêu và danh mục dự án, công trình quy hoạch của cấp trên với các chỉ tiêu quy hoạch của cấp dưới. 30% số tỉnh/thành phố thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất cao hơn và không đúng với chỉ tiêu trong quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Đối với các tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra:

Có 30% số đối tượng được thanh tra, kiểm tra vi phạm (giảm 3,3% so với 2015). Các vi phạm chủ yếu tập trung vào các nội dung như: Sử dụng đất không đúng mục đích (chiếm 32%); không sử dụng đất hoặc tiến độ thực hiện chậm so với tiến độ ghi trong dự án được duyệt (chiếm 38%); lấn chiếm đất đai (chiếm 7%)...

b. Lĩnh vực môi trường

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

Có 33% số tỉnh/thành phố chưa thực hiện lập và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường hoặc đã lập quy hoạch nhưng thời gian chậm so với quy định. Có 17% số tỉnh/thành phố chưa lập, phê duyệt quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường giai đoạn 2015 - 2020. Có 33% số tỉnh/thành phố chưa tiến hành điều tra tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh trên địa bàn để có các biện pháp quản lý, thu gom, xử lý triệt để chất thải nguy hại, giảm thiểu phát tán chất thải nguy hại ra môi trường xung quanh. 50% số tỉnh/thành phố việc lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường chưa đúng quy định.

- Đối với các tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra:

Có 37% số đối tượng được thanh tra, kiểm tra vi phạm (tăng 9,5% so với năm 2015). Các vi phạm chủ yếu tập trung vào các nội dung như: Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường (chiếm 68%); quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng theo quy định (chiếm 12%); xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép (chiếm 5%)...

c. Lĩnh vực khoáng sản

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

100% số tỉnh/thành phố ban hành giá tính thuế tài nguyên không thống nhất (có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương). 33% số tỉnh/thành phố phê duyệt quy hoạch khoáng sản chưa phù hợp; 17% số tỉnh/thành phố chưa khoanh định, phê duyệt các khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản theo quy định. 17% số tỉnh/thành phố có quy hoạch khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền không còn phù hợp với quy định; 33% số tỉnh/thành phố có quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản có các loại khoáng sản không thuộc thẩm quyền cấp phép, chưa được Bộ Tài nguyên và Môi trường khoanh định và công bố khu vực phân tán, nhỏ lẻ…

- Đối với các tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra:

Có 40% số đối tượng được thanh tra, kiểm tra vi phạm (giảm 12,3% so với năm 2015). Các vi phạm chủ yếu tập trung vào các nội dung như: Khai thác khi giấy phép đã hết hạn hoặc không có giấy phép (chiếm 31%); khai thác vượt công suất cho phép (chiếm 10%); ký quỹ phục hồi môi trường chưa đầy đủ (chiếm 10%)...

d. Lĩnh vực tài nguyên nước

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

50% số tỉnh/thành phố chưa khoanh định, công bố vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất và công bố dòng chảy tối thiểu, ngưỡng khai thác theo Luật Tài nguyên nước năm 2012. 33% số tỉnh/thành phố cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất trái thẩm quyền; 33% số tỉnh/thành phố cấp giấy phép tài nguyên nước nhưng hồ sơ cấp phép không có hồ sơ năng lực của đơn vị tư vấn lập đề án...

- Đối với các tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra:

Có 27% số đối tượng được thanh tra, kiểm tra có vi phạm (tương đương so với năm 2015). Các vi phạm chủ yếu tập trung vào các nội dung như: Không có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước (chiếm 34%); không có giấy phép khai thác sử dụng tài nguyên nước (chiếm 31%); vi phạm các nội dung trong giấy phép đã cấp (chiếm 19%)...

e. Lĩnh vực đo đạc và bản đồ

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

17% số tỉnh/thành phố chưa ban hành đầy đủ, kịp thời văn bản quy phạm pháp luật thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ. 100% số tỉnh/thành phố chưa đáp ứng đủ kinh phí cho công tác đo đạc lập bản đồ địa chính phục vụ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 17% số tỉnh/thành phố còn tình trạng chủ đầu tư hợp đồng với các đơn vị thi công, đơn vị tư vấn không có Giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ để thực hiện các hạng mục đo đạc bản đồ. 17% số tỉnh/thành phố còn tình trạng hồ sơ đo đạc bản đồ địa chính được thực hiện ở nhiều giai đoạn, nhiều tiêu chuẩn khác nhau, nhưng nhiều năm qua không được chỉnh lý dẫn đến sản phẩm đo đạc bản đồ sử dụng không hiệu quả...

- Đối với các tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra:

Có 21% số đối tượng được thanh tra, kiểm tra có vi phạm. Các vi phạm chủ yếu tập trung vào các nội dung như: Không thực hiện đầy đủ các hạng mục, mức kiểm tra theo quy định (chiếm 74%); không báo cáo cơ quan cấp phép khi có thay đổi về tổ chức, cán bộ phụ trách kỹ thuật chính (chiếm 17%)... 

----------------

Nguồn: Tài liệu Hội nghị tập huấn nghiệp vụ thanh tra và triển khai công tác thanh tra, kiểm tra ngành Tài nguyên và Môi trường năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tại Khánh Hòa ngày 9-10/3/2017

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: TS. Đoàn Hải Yến (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202