Chính sách - Pháp luật > Bình luận chính sách

Một số tồn tại, hạn chế trong thi hành Luật Đất đai ở các địa phương trong thời gian qua

Cập nhật lúc: 05/04/2017 03:56:00 PM

Trong năm 2016, Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã tổ chức thanh tra việc thi hành Luật Đất đai tại 10 tỉnh/thành phố và kiểm tra việc cấp Giấy chứng nhận theo phản ánh qua Đường dây nóng tại 15 tỉnh/thành phố. Kết quả cho thấy trong thời gian qua, việc thực hiện Luật Đất đai ở một số địa phương vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Cụ thể là:

1. Về việc ban hành các văn bản quy định theo phân cấp

Việc ban hành các văn bản quy định theo phân cấp của các địa phương còn chưa kịp thời (ban hành chậm nhiều tháng so với Luật Đất đai). Thực tế kiểm tra cho thấy còn nhiều nội dung vẫn chưa được quy định (tỉnh ít nhất có 3 nội dung, tỉnh nhiều nhất có 06 nội dung chưa quy định), đồng thời, có nhiều nội dung quy định chưa phù hợp thực tế hoặc chưa đúng với pháp luật đất đai hiện hành (tỉnh ít nhất có 4 nội dung, tỉnh nhiều nhất có 19 nội dung chưa đúng).

2. Về việc lập, phê duyệt và thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm

- Việc lập, phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện còn chưa kịp thời (thường chậm từ 3 - 6 tháng). Hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của nhiều địa phương không đầy đủ (thiếu bản vẽ vị trí, ranh giới, diện tích các công trình). Việc đăng ký nhu cầu sử dụng đất hàng năm, nhất là nhu cầu sử dụng đất của người dân còn đạt thấp, chưa căn cứ theo quy hoạch để đăng ký.

- Chất lượng kế hoạch sử dụng đất hàng năm của phần lớn các địa phương còn hạn chế, tính khả thi không cao (không thống nhất chỉ tiêu và danh mục dự án, công trình; kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm được duyệt còn đạt thấp).

- Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của cấp huyện triển khai quá chậm. Việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt ở một số địa phương còn chưa đúng quy định cả về nội dung và hình thức.

- Nhiều nội dung quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được các địa phương quan tâm thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả như: Chưa rà soát nội dung sử dụng đất trong quy hoạch các ngành để điều chỉnh thống nhất với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; chưa xác định ranh giới đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ ngoài thực địa theo quy định; chưa thực hiện công bố điều chỉnh hoặc hủy bỏ việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với những diện tích đất và dự án, công trình đã ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã được công bố mà đã quá 03 năm chưa thực hiện; chưa tổ chức kiểm tra, giám sát hàng năm việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện; tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất không xin phép vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều địa phương mà chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời.

3. Về việc thực hiện thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Còn nhiều dự án, công trình thực hiện thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng còn chậm mà nguyên nhân chủ yếu do sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quá trình thực hiện nhiều nơi chưa thật chặt chẽ, hoặc còn né tránh, thiếu cương quyết.

- Thủ tục thực hiện thu hồi đất, bồi thường còn một số trường hợp chưa đúng quy định: Chưa hoàn thành xây dựng khu tái định cư đã quyết định thu hồi đất; thông báo thu hồi đất khi chưa ban hành kế hoạch thu hồi, đo đạc, kiểm đếm; một số nơi giao cho chủ đầu tư xây dựng kế hoạch thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư mà không giao cho cơ quan tài nguyên và môi trường; có trường hợp chưa có ý kiến thẩm định phương án bồi thường của cơ quan tài nguyên và môi trường đã trình UBND phê duyệt; ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường không cùng một ngày theo quy định. Việc thu hồi GCN để chỉnh lý biến động và chỉnh lý hồ sơ địa chính sau khi thu hồi đất tại một số địa phương vẫn còn nhiều trường hợp chưa thực hiện hoặc thực hiện không kịp thời.

4. Về việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

- Còn nhiều trường hợp không phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm được duyệt. Việc giao đất có thu tiền và cho thuê đất ở nhiều địa phương vẫn chủ yếu thực hiện theo hình thức chỉ định mà chưa thực hiện thu hồi đất để đưa ra đấu giá theo quy định. Còn nhiều tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất mà chưa làm thủ tục chuyển sang thuê đất theo quy định. Hiện cả nước vẫn còn 2.654 tổ chức kinh tế tại 35 tỉnh, thành phố đang sử dụng 17.397 ha được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất mà chưa chuyển sang thuê đất.

- Việc giao đất, cho thuê đất tại các khu, cụm công nghiệp ở nhiều địa phương vẫn do Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp thực hiện mà không giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư xây dựng hạ tầng để cho thuê, cho thuê lại đất theo quy định; nhiều khu, cụm công nghiệp thực hiện giao đất sản xuất khi chưa xây dựng xong các công trình hạ tầng tiềm ẩn nhiều nguy cơ về môi trường.

- Thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất còn một số công việc chưa thực hiện đúng quy định, như: thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất đối với cả các tổ chức đang sử dụng đất; không có biên bản bàn giao đất thực địa hoặc biên bản bàn giao đất thực địa lập trước khi ký quyết định cho thuê đất, trước khi ký hợp đồng thuê đất; giao đất, cho thuê đất xong mà không cấp giấy chứng nhận, đăng ký vào sổ địa chính; cho thuê đất đối với tổ chức mua bán tài sản gắn liền với đất thuê trả tiền hàng năm không có văn bản thẩm định về điều kiện mua bán tài sản theo quy định; thể hiện loại đất giao, cho thuê chưa đúng quy định; thời hạn sử dụng đất tính hồi tố từ trước ngày ký quyết định giao đất; cho phép chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất nhưng không xác định cụ thể vị trí, ranh giới diện tích đất chuyển mục đích thành thửa đất riêng;

- Một số công việc về đấu giá đất tại một số địa phương còn chưa thực hiện đúng quy định như: chưa lập phương án đấu giá để trình Ủy ban nhân dân cấp thẩm quyền phê duyệt; việc lập hồ sơ đấu giá đất vẫn do cơ quan tài chính thực hiện mà chưa chuyển giao sang cơ quan Tài nguyên và Môi trường thực hiện theo quy định; đấu giá đất khi chưa giải phóng mặt bằng; người trúng đấu giá vẫn phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với UBND cấp huyện hoặc tổ chức phát triển quỹ đất; người trúng đấu giá thực hiện xong nghĩa vụ tài chính mới ban hành quyết định công nhận kết quả đấu giá; vẫn phải lập phiếu chuyển thông tin địa chính cho cơ quan thuế để xác định và thông báo nộp tiền; thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người trúng đấu giá một số nơi thực hiện còn phức tạp như cấp lần đầu cho người đang sử dụng.

- Việc cho thuê đất nông nghiệp công ích của xã tại một số địa phương kiểm tra chỉ ký hợp đồng thuê trong thời hạn 1 năm; nhiều trường hợp hồ sơ cho thuê đất không đầy đủ, rõ ràng (không có bản đồ, sơ đồ xác định vị trí cho thuê); có trường hợp do UBND cấp huyện cho thuê hoặc không cho ai thuê đất.

5. Về việc đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính

- Nhiều nội dung về việc đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính còn chưa thực hiện đúng quy định như: Chưa thực hiện đăng ký bắt buộc đối với các trường hợp còn lại chưa đăng ký; chưa lập sổ địa chính điện tử theo quy định; một số địa phương chưa cho người dân được lựa chọn chứng thực hợp đồng thực hiện các quyền tại UBND cấp xã mà vẫn bắt buộc người dân phải được công chứng hợp đồng. Việc cập nhật, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai  ở một số địa phương chưa thực hiện hoặc thực hiện không kịp thời, thường xuyên theo quy định. Nhiều địa phương đã đo vẽ lại bản đồ địa chính đã lâu nhưng không thực hiện hoặc chậm hoàn thành việc đăng ký, lập lại hồ sơ địa chính, cấp đổi Giấy chứng nhận.

- Thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận qua kiểm tra còn nhiều trường hợp chưa thực hiện đúng quy định như: hồ sơ phải nộp có nhiều giấy tờ không cần thiết (bản sao giấy CMND, sổ hộ khẩu, đăng ký kết hôn, bản kê khai nguồn gốc sử dụng đất; bản cam kết hạn mức sử dụng đất; bản mô tả ranh giới thửa đất sử dụng). Một số thủ tục giải quyết không đúng quy định (ví dụ: không kiểm tra xác nhận vào hồ sơ khi tiếp nhận; không lấy ý kiến người dân về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với trường hợp không có giấy tờ; ý kiến của UBND cấp xã và VPĐK còn chưa đầy đủ, rõ ràng).

- Một số công việc của thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận thực hiện không cần thiết hoặc không đúng thẩm quyền (vẫn có tờ trình của UBND cấp xã đề nghị cấp GCN; vẫn ký quyết định giao đất đối với tổ chức đang sử dụng, ký quyết định công nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình; vẫn thực hiện trích đo và ký xác nhận ranh giới với các hộ liền kề ở nơi có bản đồ địa chính hoặc đối với trường hợp chuyển quyền trọn thửa). Một số công việc chưa đúng trình tự thực hiện (vẫn ký Giấy chứng nhận trong khi hộ gia đình chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính).

- Thời gian thực hiện thủ tục nhiều trường hợp còn chậm, kéo dài; một số trường hợp đăng ký biến động áp dụng không đúng loại thủ tục quy định (cấp đổi GCN nhưng làm như thủ tục cấp GCN lần đầu,...). Tình trạng trả lại hồ sơ không giải quyết vì các lý do trái quy định là khá phổ biến, gây phiền hà cho người dân. Việc luân chuyển hồ sơ thủ tục giữa UBND cấp xã, Văn phòng Đăng ký đất đai và các cơ quan liên quan ở một số địa phương chưa đúng quy định về cơ chế một cửa liên thông (theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ).

- Giấy chứng nhận còn một số nội dung thể hiện chưa đúng quy định (như  mục đích, nguồn gốc và thời hạn sử dụng đất; sơ đồ thửa đất không được thể hiện hoặc thể hiện không đủ thông tin); chưa in có mã vạch; chưa quét, sao y Giấy chứng nhận để lưu theo quy định.

- Việc quản lý Giấy chứng nhận ở nhiều địa phương còn lỏng lẻo, sơ hở như:  Không nắm được tình hình trao Giấy chứng nhận đã chuyển về xã; không ký nhận vào sổ khi trao giấy; không thu hồi các Giấy chứng nhận mà người dân không nhận để lưu; Giấy chứng nhận đã thu hồi chưa xác nhận lý do thu hồi theo quy định. Việc quản lý phôi GCN trong quá trình sử dụng ở một số địa phương chưa chặt chẽ: còn giao cho đơn vị tư vấn quản lý sử dụng mà không kiểm tra giám sát, thu hồi đầy đủ các phôi giấy đã giao.

----------------

Nguồn: Theo Đề án tăng cường xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai giai đoạn đến năm 2020, Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), tháng 3/2017

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: TS. Đoàn Hải Yến (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202