Phân tích và Dự báo > Báo cáo quý

Một số nét nối bật về tình hình kinh tế Quý I và dự báo kinh tế Quý II năm 2017

Cập nhật lúc: 18/04/2017 12:00:00 AM

I. Một số nét nổi bật của kinh tế Việt Nam quý I/2017

I.1. Tăng trưởng kinh tế quí I/2017 thấp nhất trong 3 năm gần đây

Kinh tế Việt Nam trong Quý I năm 2017 đã tăng trưởng chậm lại. Tốc độ tăng GDP của quý I/2017 chỉ đạt 5,1%, thấp hơn so với mức tăng 5,48% của quý I/2016 và còn khá thấp so với con số 6,12% của cùng kỳ năm 2015.

Thành tố quan trọng nhất đóng góp vào mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế là khu vực dịch vụ đạt 6,52%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng chỉ tăng 4,17% (thấp hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng 6,72% của cùng kỳ năm 2016), đóng góp 1,46 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Riêng khu vực nông, lâm thủy sản, tăng trưởng quý I/2017 đạt 2,03% so với cùng kỳ, tăng cao so với mức tăng trưởng (-1,23%) của quý I/2016, đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (Hình 2).

Điểm sáng trong bức tranh tăng trưởng kinh tế  trong 3 tháng đầu năm 2017 là sự phục hồi của khu vực nông, lâm, thủy sản khi không còn phải chịu những tác động tiêu cực của tình hình thời tiết khắc nghiệt và hệ lụy trực tiếp do ô nhiễm môi trường biển giảm bớt.

Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp trong quý I/2017 đã tăng trưởng chậm lại. Trong quí I, ngành công nghiệp tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2011. Nguyên nhân chính là do ngành khai khoáng giảm mạnh, giảm 10% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2016 chỉ giảm 1,7%), làm giảm 0,76 điểm % mức tăng trưởng chung. Điều này  cũng cho thấy Việt Nam đang thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó mục tiêu tăng trưởng phụ thuộc vào khai thác tài nguyên đã có sự điều chỉnh và từ đó có sự tác động đến ngành khai khoáng.

Nhìn từ chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) cho thấy, trong quý I/2017, chỉ số IIP toàn ngành ước tính tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 11,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%. Ngành xây dựng cũng tăng trưởng chậm lại, chỉ đạt 6,10%, thấp hơn tốc độ tăng 8,6% của cùng kỳ năm 2016, đóng góp 0,3 điểm phần trăm (Hình 3).

- Hoạt động dịch vụ trong quí I/2017 cũng phát triển tương đối ổn định. Tính chung trong quí I khách quốc tế đến nước ta đã tăng 29% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2015 giảm 11,6%).

I.2. Lạm phát tăng cao hơn so với kế hoạch đề ra

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)  2 tháng đầu năm theo quy luật thường chịu tác động bởi nhu cầu mua sắm hàng hóa phục vụ sản xuất, chế biến cho Tết Nguyên Đán. Cụ thể chỉ số giá tiêu dùng CPI 2 tháng tăng 0,69%. Sang tháng 3 có nhiều yếu tố giảm áp lực lên mặt bằng giá. Thị trường hàng hóa dần trở lại bình thường, giá cả nhóm mặt hàng ăn uống và dịch vụ đã giảm nhẹ so với tháng trước, tuy nhiên nhóm dịch vụ y tế đã tăng cao (tăng hơn 7% so với tháng trước)  dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 đã tăng 0,23% so với tháng trước trong khi CPI cơ bản không tăng so với tháng trước. Hình 4 cho thấy tính đến hết quí I, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,9% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,65% so với cùng kỳ.

I.3. Cán cân thương mại thâm hụt do nhập khẩu tăng nhanh

Nhập khẩu hàng hóa tăng nhanh đã thay đổi cán cân thương mại quý I/2017. Trong tháng 1/2017, thương mại hàng hóa thặng dư 1,15 tỷ USD do xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 14,34 tỷ USD và 13,19 tỷ USD. Sang tháng 2 và 3/2017, nhập khẩu hàng hóa đạt 15,15 và 17,40 tỷ USD, trong khi xuất khẩu hàng hóa đạt 13,11 và 16,30 tỷ USD. Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa quý I thâm hụt khoảng 1,9 tỷ USD, bằng 4,35% kim ngạch xuất khẩu (Hình 5). 

Tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa ước tính cho quý I/2017 là 43,73 tỷ USD và 45,63 tỷ USD, tăng tương ứng 12,8% và 22,4% so với cùng kỳ năm 2016. Mức tăng trưởng này dựa trên nền tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa quý I/2016 thấp nhất từ năm 2011 (Bảng 1) nên không phải là quá cao.

Tăng trưởng xuất, nhập khẩu hàng hóa của 3 tháng đầu năm 2017 một phần do sự hỗ trợ của yếu tố giá. Hình 6a cho thấy trong năm 2016 chỉ số giá xuất, nhập khẩu (tính theo đôla Mỹ) có xu hướng tăng nhẹ do giá thế giới tăng và xu hướng này vẫn tiếp tục ở đầu năm 2017. Chỉ số giá hàng hóa thế giới liên tục tăng từ cuối năm 2015 đối với cả nhóm hàng hóa nhiên liệu và phi nhiên liệu (Hình 6b). Chỉ số giá xuất khẩu quý I/2017 tăng cao hơn chỉ số giá nhập khẩu (tương ứng 5,71% và 3,23%) so với quý I/2016.

Tăng trưởng khối lượng mới là yếu tố chính đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu hàng hóa quý I năm 2017. Khối lượng nhập khẩu tăng 19,9% cao hơn mức 4,8% cùng kỳ năm 2016.

Đóng góp vào mức tăng trưởng khối lượng nhập khẩu tới gần 20% là tăng trưởng khối lượng của ô tô nguyên chiếc (tăng 43,4%), cao su (tăng 35,3%), phân bón (tăng 34,6%), lúa mỳ (tăng 34,3%), bông (tăng 26,5%). Tuy nhiên, việc giảm sút khối lượng nhập khẩu xăng dầu, khí đốt hóa lỏng, sắt thép và kim loại thường khác (giảm tương ứng 4,3%; 0,6%; 5,3% và 6,9%) có thể liên quan tới mức tăng trưởng thấp của ngành công nghiệp (giá trị tăng thêm công nghiệp chỉ tăng 3,85%, thấp nhất từ năm 2011).

Tỷ trọng của nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch xuất khẩu đang có xu hướng tăng. Kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này tăng liên tục từ 61,5% (quý I/2011) lên 75,1% (quý I/2016). Tuy nhiên, tỷ trọng của nhóm hàng này giảm nhẹ xuống 73,6% vào quý I/2017. Hình 7 cho thấy điện thoại các loại và linh kiện; dệt may; điện tử, máy tính và linh kiện vẫn là những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất. Trong khi tỷ trọng xuất khẩu điện tử, máy tính và linh kiện tăng nhẹ (từ 9,6%-quý I/2016 lên 12,2%-quý I/2017), tỷ trọng hai mặt hàng còn lại giảm. Tỷ trọng của điện thoại các loại và linh kiện giảm từ 21,5% xuống 16,9% do kim ngạch giảm 10,5%. Dệt may giảm từ 13,2% xuống 12,9% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. 

Tỷ trọng của nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu từ năm 2011 tăng dần qua các năm. Tuy nhiên, tỷ trọng quý I/2017 giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2016 (67,1% so với 67,4%) do tỷ trọng của một số mặt hàng giảm, ví dụ như điện tử máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; ô tô. Tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị phụ tùng tăng (từ 16,08% lên 16,69%) có thể gắn với lượng vốn FDI giải ngân kỷ lục năm 2016 (đạt 15,8 tỷ USD). 

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm ưu thế trong thương mại hàng hóa với tỷ trọng 71,8% và 59,7% tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Đặc biệt, xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu đều do khu vực này chi phối.[1] Khu vực FDI xuất siêu tới 4,16 tỷ USD, trong khi khu vực kinh tế nhà nước nhập siêu 6,06 tỷ USD.

Thị trường xuất khẩu không có nhiều thay đổi. Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu (8,7 tỷ USD, chiếm 19,9%), tiếp theo là EU (18,1%) và Trung Quốc (13,7%). Từ năm 2016, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam, thay cho khu vực ASEAN.

Thị trường nhập khẩu có sự thay đổi gắn với luồng vốn FDI. Cụ thể, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam (11,9 tỷ USD; chiếm 26,1%). Với lượng vốn FDI từ Hàn Quốc liên tục tăng trong những năm gần đây, từ năm 2015 Hàn Quốc vươn lên là thị trường nhập khẩu số hai (quý I/2017 nhập khẩu từ Hàn Quốc 9,3 tỷ USD; chiếm 20,4%).

 I.4. Đầu tư nước ngoài tăng trưởng mạnh song giải ngân đầu tư từ ngân sách đạt thấp

Trong quý I năm 2017, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện  đạt khoảng  297,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32% GDP, trong đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước tính đạt 25,46 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, khu vực ngoài Nhà nước đạt 117,4 nghìn tỷ đồng, tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 80,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2%.

Về vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước: Trong  các tháng đầu năm, hoạt động đầu tư, xây dựng chủ yếu tập trung vào thực hiện các dự án, công trình chuyển tiếp từ năm 2016. Chính phủ tích cực thực hiện các giải pháp nhằm huy động nguồn lực đầu tư trong xã hội và đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ngân sách nhà nước theo Quyết định số 2562/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2017. Theo đó, trong 2 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước tính đạt 25,46 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, tiến độ giải ngân so với kế hoạch tại nhiều đơn vị trung ương thấp hơn so với tỷ lệ chung và số vốn giải ngân giảm hơn so với cùng kỳ năm trước như:  Bộ Giáo dục và Đào tạo  (giảm 57,8%); Bộ Tài nguyên và Môi trường (giảm 39,8%); Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (giảm 20,7%); Bộ Xây dựng ( giảm 56,9%); Bộ Công Thương (giảm 49,4%); Bộ Khoa học và Công nghệ (giảm 59%); Bộ Thông tin và Truyền thông (giảm 45,7%).

Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tiếp tục đà tăng trưởng của năm 2016, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam quý I năm 2017 đã đạt mức cao so với cùng kỳ các năm trước cả về số dự án cấp mới, số vốn đăng ký và vốn giải ngân. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần là 7,71 tỷ USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó,  có 493 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký là 2,917 tỷ USD (tăng 6,5%); có 223 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 3,94 tỷ USD (tăng 206,4 %) và 1077 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN với tổng giá trị góp vốn là 852,86 triệu USD (tăng 171,5%). Vốn giải ngân ước đạt 3,62 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2016..

Điều này có thể thấy những kỳ vọng tích cực của các nhà đầu tư về những cải cách mạnh mẽ về môi trường kinh doanh cũng như hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của Chính phủ trong thời gian gần đây.

I.5. Tiêu dùng tiếp tục giảm sút

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 3 đạt khoảng 312,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng 2 và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động, bán lẻ hàng hóa tháng 3 ước đạt 235 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng 2. Dịch vụ lưu trú ăn uống và dịch vụ khác tăng nhẹ trở lại, đạt khoảng 38 nghìn tỷ đồng (tăng 1,6% so với tháng trước), dịch vụ khác đạt  khoảng 37 nghìn tỷ đồng (tăng 6,4%). Riêng du lịch chỉ đạt 2,2 nghìn tỷ đồng, giảm 14,3% so với tháng 2.

Đến hết quý I/2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt khoảng 952 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước sau khi loại trừ yếu tố giá. Như vậy, tốc độ tăng của tổng mức bán lẻ hàng hóa đang chậm lại so với hai năm 2014-2015.  Nguyên nhân chủ yếu là do sức mua hàng hóa bán lẻ và dịch vụ khác tăng chậm lại, trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa trong quý I/2017 chỉ tăng 5,6%, so với 6,1% của năm 2016, dịch vụ khác tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2016 là 8,4%.

Tiêu dùng cuối cùng quý I/2017 ước đạt 736 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 72% trong tổng tiêu dùng cuối cùng, đây cũng là mức tăng thấp so với các năm trước đó, lần lượt là 8,8% và 6,8% cùng kỳ năm 2015, 2016. Xu hướng tăng trưởng tiêu dùng chậm lại do nhiều yếu tố:

- Tăng trưởng tiêu dùng của năm 2015 tăng vượt trội khiến cho mặt bằng tiêu dùng đang ở mức cao dẫn đến mức tăng trưởng tiêu dùng sau đó tốc độ tăng chậm lại. Nếu như nhìn vào mặt bằng chung của giai đoạn 2011-2014 thì mức tăng trưởng tiêu dùng vẫn đang ở mức khá. Động lực tăng tiêu dùng của năm 2015 chủ yếu là do yếu tố giá cả ổn định, hầu như không tăng và có thời điểm giá còn giảm, trong khi đó tăng trưởng kinh tế có nhiều khởi sắc đã khuyến khích tăng sức mua nhưng đến thời điểm hiện tại, động lực này đã yếu đi.

- Giá hàng hóa tăng lại sau một thời gian dài được giữ tương đối ổn định gây tác động tiêu cực đến tâm lý tiêu dùng. Giá cả một số hàng hóa và dịch vụ cơ bản (giá xăng, lương thực thực phẩm, giá dịch vụ y tế, giáo dục) đều được chỉnh tăng lại trong năm 2016 khiến sức mua bị ảnh hưởng, đặc biệt tác động đến mức bán lẻ hàng hóa nói chung và dịch vụ khác. 

- Tâm lý tiết kiệm vẫn còn hiện hữu. Người dân ngày càng cẩn trọng hơn trong việc chi tiêu đặc biệt trong bối cảnh thu nhập tăng chậm và giá cả thì tăng trở lại. Biến động về giá có thể khiến người dân tiêu dùng ít đi và tiết kiệm nhiều hơn. Hiện tại, Việt Nam đang được đánh giá là một trong những quốc gia tiết kiệm nhất thế giới theo báo cáo niềm tin tiêu dùng của Nielsen[1]. Người tiêu dùng Việt Nam có xu hướng ưu tiên tiết kiệm hơn chi tiêu, và tâm lý này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý chi tiêu cẩn thận, đặc biệt là cho những mặt hàng cơ bản.

I.6. Thị trường tiền tệ tương đối ổn định

Về tỷ giá, trong quý I/2017, cầu ngoại tệ của doanh nghiệp tăng dẫn đến giao dịch đồng USD tăng, tỷ giá ngoại tệ của các ngân hàng thương mại có thời điểm tăng gần bằng mức trần. Nguyên nhân là do trong 2 tháng đầu năm 2017, nhập siêu tăng cao, cùng với tâm lý thị trường ảnh hưởng bởi khả năng tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).  Tuy nhiên, sau khi FED nâng lãi suất cơ bản đồng USD thêm 0,25% lên mức 0,75%, lãi suất qua đêm liên ngân hàng ở khoảng 0,75-1% (vào ngày 15/3/2017), với việc sử dụng cơ chế kiểm soát dòng ngoại tệ và NHNN công bố tỷ giá trung tâm theo ngày, áp dụng biên độ dao động +/- 3%, tỷ giá ngoại tệ chưa có sự biến động mạnh gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. 

Các áp lực về tỷ giá VND/USD từ cuối năm 2016 tiếp tục gây ảnh hưởng trong những tháng đầu quý I/2017, khiến tỷ giá bình quân tăng cao. Song, tỷ giá đang có dấu hiệu giảm mạnh từ khi FED tăng lãi suất và đang dần ổn định ở mức 22.575 - 22.883 VND/USD. Nguyên nhân chính là cầu ngoại tệ sau giai đoạn căng thẳng những tháng đầu năm 2017 đã dịu lại do tâm lý thị trường ổn định trở lại (Hình 13).

 

Mặt bằng lãi suất huy động tăng nhẹ, lãi suất cho vay ổn định

Trong những tháng đầu năm 2017, diễn biến lãi suất bình quân liên ngân hàng đang có chiều hướng tăng nhẹ. Tính từ 3/1/2017 đến 27/03/2017, các kỳ hạn lãi suất Qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng đều  tăng nhẹ tương ứng ở các mức từ 4,13%, 4,44%, 4,7%, 5,18%, 5,17% và 5,21 lên mức 4,77%, 4,89%, 5,01%, 4,76%, 5,57% và 5,3%. Trong khi đó, lãi suất bình quân liên ngân hàng của kỳ hạn 9 tháng là không đổi, vẫn ở mức 5,8% (Hình 14).

Các yếu tố khiến lãi suất huy động tăng nhẹ bao gồm: (1) Lạm phát tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2015, mặc dù vẫn ở mức tương đối thấp; (2) Những áp lực về tỷ giá của những tháng đầu năm ; (3) Một số diễn biến trong hệ thống ngân hàng thời gian qua cũng thúc đẩy nhu cầu tăng cường huy động vốn.

Tín dụng 3 tháng đầu năm đã tăng mạnh nhất trong vòng 6 năm trở lại đây đạt 2,81%[1], đây là tín hiệu tốt đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý về nguy cơ tín dụng đang có xu hướng tăng lên trong lĩnh vực bất động sản, bao gồm cả tổ chức và cá nhân vay mua, sửa chữa nhà. Trong tháng 3/2017, một số ngân hàng thương mại phát hành chứng chỉ tiền gửi lãi suất cao nhằm thu hút nguồn vốn dài hạn. Nguyên do theo quy định của Thông tư số 06/2016/NHNN, từ đầu năm 2017, hệ số sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các ngân hàng từ 60% xuống 50%. Trong khi đó, nhiều ngân hàng  đang gần chạm trần trong tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn[2], vì thế, việc phát hành chứng chỉ tiền gửi là để tăng nguồn vốn trung và dài hạn.

I.7. Thu chi NSNN có sự cải thiện

Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước thực hiện lũy kế 3 tháng đầu năm ước đạt 280,9 nghìn tỷ đồng, bằng 23,2% dự toán cả năm, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, thu nội địa ước đạt 232 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4% dự toán năm, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2016; thu dầu thô ước đạt 11 nghìn tỷ đồng, bằng 28,9% dự toán, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2016 (chủ yếu do giá tăng); và thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 3 tháng đầu năm ước đạt 66,8 nghìn tỷ đồng, bằng 18,7% dự toán, thấp hơn mức 54,6 nghìn tỷ đồng của 03 tháng đầu năm 2016.

Tổng chi NSNN 03 tháng đầu năm 2017 khoảng 284,96 nghìn tỷ đồng, bằng 20,5% dự toán cả năm. Bội chi NSNN 03 tháng năm 2017 ước đạt 4,06 nghìn tỷ đồng. Bội chi ngân sách so với quý I/2017 đã giảm đáng kể so với các năm trước chỉ ở mức 0,44% so với mức trung bình trên 5% trong quí I các năm gần đây (Hình 15).

I.8. Số lượng doanh nghiệp tăng trưởng tốt song tốc độ và quy mô vốn giảm

Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng cả về số lượng và về số vốn đăng ký. Tuy nhiên, so với năm trước, tốc độ tăng vốn giảm sút.

Cho đến hết tháng 3 năm 2017, cả nước có thêm 26.478 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 271.238 tỷ đồng, tăng 11,4% về số doanh nghiệp và tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm ngoái (So sánh 2016/2015: doanh nghiệp tăng 24,8%; vốn tăng 67,2%).  Thêm vào đó, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tính đến hết tháng 3 năm 2017 là 9.271 doanh nghiệp, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm ngoái. (So sánh 2016/2015: doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 84,1%). 

So với cùng kỳ năm 2016 và 2015, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng về số tuyệt đối, tuy nhiên tốc độ tăng tương đối so với cùng kỳ lại sụt giảm đáng kể. So với các quý còn lại trong năm, số lượng doanh nghiệp thành lập mới thường thấp nhất trong quý I và tăng dần trong các quý còn lại do ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ kinh doanh và ảnh hưởng của thời điểm nghỉ Tết Âm lịch xảy ra vào quý I, khiến cho tình hình đăng ký doanh nghiệp trong tháng này sụt giảm đáng kể.

Bên cạnh đó, hoạt động của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn và chưa thực sự ổn định, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

So sánh giữa số lượng các doanh nghiệp đăng ký hoạt động và các doanh nghiệp đang dừng hoạt động, số lượng các doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tạm ngừng hoạt động không đăng ký, chờ giải thể hoặc đã hoàn thất thủ tục giải thể, tức là các doanh nghiệp đang dừng các hoạt động SXKD so với số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động thì tỷ trọng này chiếm đến hơn 67%. Đây là một con số đáng báo động về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường.

Trong các ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp ngành khai khoáng có mức sụt giảm mạnh nhất, tác động mạnh đến tăng trưởng ngành công nghiệp và cả nền kinh tế nói chung. Quý I/2017, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 11,4%, làm giảm 2,5% điểm phần trăm, khiến mức tăng chung toàn ngành công nghiệp chỉ còn 4,1%[1].

Tình hình hoạt động doanh nghiệp của ngành chế biến, chế tạo đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tăng trưởng ngành công nghiệp (đóng góp 5,9 điểm phần trăm quý I/2017) cũng chỉ duy trì mức hoạt động ổn định. Theo khảo sát kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo[2] trong quý I/2017 của TCTK, phần lớn các đánh giá của DN trong ngành đều cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định (41,8%). Xét theo các tiêu chí cụ thể cũng đều đánh giá ổn định về khối lượng sản xuất (39,2%); đơn hàng (46,1%), chi phí sản xuất (64,2%), giá bán sản phẩm (73,8%), tình hình tồn kho (54,7%). Chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo quý 1/2017 chỉ tăng 8,3% so với mức 9,4% cùng kỳ năm trước.

Triển vọng tích cực đến từ các doanh nghiệp ngành dịch vụ giúp cho mức tăng trưởng khu vực này tăng 6,52%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, cao nhất trong 3 khu vực kinh tế. Trong đó, mức tăng trưởng từ các ngành bán buôn và bán lẻ; dịch vụ lưu trú và ăn uống; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt kết quả tích cực, đóng góp mỗi ngành vào điểm phần trăm tăng trưởng cao hơn cả khu vưc nông, lâm nghiệp và thủy sản.

II. Dự báo một số chỉ tiêu vĩ mô chủ yếu quí II năm 2017

II.1. Bối cảnh chung

Trong năm 2017, kinh tế Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục phục hồi do: (1) Các nền kinh tế lớn như Mỹ và EU đang trên đà phục hồi sẽ giúp Việt Nam thúc đẩy việc xuất khẩu vì đây là 2 thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam; Và (2) những cải thiện về môi trường đầu tư, kinh doanh, triển vọng hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục khởi sắc. Với những cải thiện mạnh mẽ về cơ chế chính sách liên quan đến cải cách thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh được Chính phủ quyết liệt chỉ đạo thực hiện trong năm 2016 và 2017 sẽ phát huy hiệu quả nhiều hơn trong năm nay, kỳ vọng rằng trong thời tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh mẽ hơn, mức độ gia nhập thị trường và gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế sẽ tăng mạnh hơn so với năm 2016.

Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế quốc tế  còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi, kinh tế Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng đề ra.

- Những thách thức từ bên ngoài do bất ổn địa chính trị năm 2016, xu hướng gia tăng bảo hộ mậu dịch và việc rút khỏi TPP và vấn đề chính trị hóa vốn đầu tư của Mỹ có thể tác động tiêu cực tới hoạt động thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam.

- Những bất ổn của kinh tế Trung Quốc và tình trạng dư thừa năng lực sản xuất của nước này có thể làm giảm nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, và tăng xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc, cũng như những rủi ro lớn khi tiếp nhận những nhà máy, máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên vật liệu không thân thiện với môi trường thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài hay dưới hình thức ODA.

- Rủi ro về tài chính tiền tệ quốc tế sẽ tạo sức ép lên tỷ giá do chính sách tăng cường bảo hộ thương mại cũng như tăng lãi suất của Mỹ và chính sách tiền tệ cũng như rủi ro từ thị trường tài chính của Trung Quốc.

- Chính sách bảo hộ thương mại và thuế biên giới mà Mỹ đề xuất sẽ khiến cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ gặp nhiều khó khăn, do Mỹ là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Việc FED tăng lãi suất của đồng USD sẽ khiến cho đồng VND giảm giá so với đồng USD. Trong bối cảnh cơ chế tỷ giá được thay đổi theo hướng chuyển từ neo tỷ giá với đồng USD sang điều hành theo tỷ giá trung tâm, đồng VND sẽ không còn tăng giá cùng với đồng USD như trước đây. Do đó, việc Fed tăng lãi suất có thể sẽ có tác động mạnh hơn tới mặt bằng tỷ giá của Việt Nam từ năm 2017 trở đi so với năm 2016.

Trong khi đó, tăng trưởng trong nước cũng gặp nhiều thách thức. Động lực tăng trưởng truyền thống của Việt Nam như vốn, xuất khẩu và dựa vào khu vực công nghiệp đã không còn nhiều dư địa như những năm trước. Trong năm 2017, vốn đầu tư nước ngoài có khả năng tăng chậm lại, những lĩnh vực phụ thuộc vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như công nghiệp chế biến chế tạo hay xuất khẩu sẽ chịu tác động đầu tiên. Với việc chậm xóa bỏ rào cản trong sản xuất như “chi phí không chính thức”, “tính năng động của chính quyền”, “tiếp cận đất đai” và “cạnh tranh bình đẳng” sẽ vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, sức ép lạm phát đang gia tăng do chịu áp lực từ giá cả thế giới, sự điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý và biến động tài chính tiền tệ. Áp lực tăng tỷ giá và lãi suất có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nước và những phản ứng dây chuyền trên thị trường bất động sản hay thị trường chứng khoán và nguy cơ tăng lạm phát. Thu ngân sách sẽ ngày càng khó khăn do thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tiếp tục giảm theo lộ trình cũng như thực hiện các cam kết cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu. Tái cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011-2015 không đạt mục tiêu nên nền tảng kinh tế vĩ mô và một số cân đối lớn chưa vững chắc cũng sẽ gây áp lực đến tiến trình tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong thời gian tới.

II.2. Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô:

Về tăng trưởng kinh tế

Tình hình kinh tế trong nước Quý II được kỳ vọng sẽ có nhiều khởi sắc khi môi trường đầu tư kinh doanh cải thiện[3], qua đó thúc đẩy khu vực sản xuất trong nước. Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong quý II và những tháng cuối năm được dự báo sẽ được đẩy mạnh hơn so với quý I do bước vào chu kỳ sản xuất hàng năm, từ đó kích thích khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, khu vực công nghiệp và xây dựng còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, khó có thể đạt mức tăng trưởng cao. Đặc biệt, công nghiệp khai khoáng suy giảm vẫn đang tồn tại như là nút thắt kéo theo mức giảm của tăng trưởng chung trong khi các ngành công nghiệp còn lại chưa có nhiều bứt phá. Trong trường hợp giá dầu thô tiếp tục phục hồi trong thời gian tới, kéo theo sự tăng giá các nguyên liệu đầu vào thì ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ còn khó khăn hơn. Khu vực dịch vụ được kỳ vọng sẽ ghi nhận mức tăng trưởng nhanh hơn so với cùng kỳ trong những quý tới khi tiêu dùng có xu hướng cải thiện tốt hơn và các dịch vụ du lịch có triển vọng phát triển. Riêng khu vực nông, lâm, thủy sản mặc dù đã phục hồi nhưng vẫn ẩn chứa nhiều thách thức do giá hàng hóa lương thực, thực phẩm trong nước đang duy trì ở mức tương đối thấp và khó khăn trong xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm thủy sản tiếp tục là lực cản của khu vực này trong thời gian tới.

Nhìn chung, từ các dấu hiệu trên cho thấy có thể kỳ vọng kinh tế Việt Nam sẽ đạt được mức tăng trưởng trong các quý tiếp theo của năm 2017 so với cùng kỳ năm 2016 khi ba động lực hỗ trợ chính là khu vực nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp có triển vọng tăng trưởng cao hơn. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng 6,7% cho năm 2017 mà Chính phủ đang đặt ra vẫn là một ngưỡng cao khó để nền kinh tế Việt Nam có thể vươn tới khi nhiều khó khăn nội tại (trong khu vực công nghiệp, nông nghiệp) vẫn còn hiện hữu

Về kiểm soát lạm phát

Sức ép lạm phát đang gia tăng do chịu áp lực từ giá cả thế giới.  Trong nước, giá cả một số hàng hóa và dịch vụ cơ bản (giá xăng, lương thực thực phẩm, giá dịch vụ y tế, giáo dục) đều được điều chỉnh tăng, bên cạnh đó, áp lực về tỷ giá và lãi suất có thể đẩy nguy cơ tăng giá. Theo đó, CPI bình quân được dự báo ở mức khoảng 4,7% trong Quý II.

Về kim ngạch xuất nhập khẩu

Xuất nhập khẩu của nước ta sẽ chịu tác động của một số yếu tố sau: (i) xu hướng bảo hộ mậu dịch lan rộng sẽ gây khó khăn cho hàng hóa Việt Nam vào một số thị trường; (ii) việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tăng lãi suất lần thứ hai trong năm 2017 (dự kiến tháng 6) gây áp lực lên điều hành chính sách tiền tệ trong nước, ảnh hưởng tới tỷ giá cũng như lợi thế cạnh tranh của đồng Việt Nam. Nếu lãi suất trong nước không được điều chỉnh, dòng tiền sẽ ra khỏi Việt Nam để hưởng chênh lệch lãi suất sẽ ảnh hưởng tới xuất, nhập khẩu; (iii) tăng trưởng kinh tế và thương mại thế giới Quý II dự báo khả quan hơn so với Quý I; (iv) giá cả hàng hóa thế giới Quý II năm 2017 vẫn đang trong xu hướng tăng. Nhân tố này một mặt làm tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng mặt khác kim ngạch nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng tăng theo; (v) mức giải ngân vốn FDI Quý II dự kiến sẽ tăng cao hơn làm gia tăng nhập khẩu do khu vực FDI khu vực dẫn dắt xuất khẩu và do nhiều nguyên liệu phục vụ xuất khẩu chưa sản xuất được trong nước và phải nhập khẩu.

Do đó, dự báo kim ngạch xuất, nhập khẩu Quý II đạt tương ứng là gần 48 và 49 tỷ USD, cả năm 2017 là 195,3 tỷ USD và 200,5 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 5,2 tỷ USD.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Mặc dù, các nhà đầu tư đã thận trọng hơn trong quyết định đầu tư sau khi Mỹ tuyên bố không thông qua Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), tuy nhiên, nhiều cơ hội hợp tác đầu tư nhờ 16 hiệp định thương mại tự do đã và đang đàm phán, trong đó, không chỉ là đầu tư mới, mà cả mở rộng các dự án đầu tư sẵn có. Thêm vào đó, các nhà đầu tư trên thế giới vẫn đánh giá Việt Nam tiếp tục là một địa điểm đầu tư hấp dẫn nhờ có nhiều yếu tố tích cực như cơ hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như nỗ lực của chính phủ trong cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Dự báo FDI giải ngân Quý II đạt gần 4 tỷ USD và cả năm 2017 đạt khoảng 16 tỷ USD.

II.3. Kiến nghị và gợi ý chính sách

Để tiếp tục ổn định nền kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, trong thời gian tới, cần phải giải quyết ngay vấn đề sau:

(1) Tiếp tục cải cách thể chế và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô để khôi phục niềm tin của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và của người tiêu dùng, thúc đẩy xuất khẩu và giảm nhập siêu. Đặc biệt cần theo dõi việc thực thi Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

(2) Thực hiện tốt kiểm soát lạm phát trong bối cảnh giá cả hàng hoá thế giới biến động khó lường. Giảm áp lực giá cả lên tâm lý tiêu dùng của người dân bằng các biện pháp kiểm soát giá cả nói chung và một số mặt hàng, dịch vụ thiết yếu nói riêng.

(3) Điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt theo tín hiệu thị trường. Có biện pháp để quản lý chặt chẽ hạn mức tín dụng, nhất là tín dụng đối với đầu tư bất động sản. Nghiên cứu giảm dần lãi suất cho vay đầu tư sản xuất kinh doanh một cách phù hợp với diễn biến lạm phát và yêu cầu phục hồi nền kinh tế.

(4) Cần có những giải pháp mạnh mẽ nhằm giảm chi thường xuyên, để giảm bội chi ngân sách. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ.

(5) Tận dụng cơ hội do hội nhập mang lại, tiếp tục thực hiện các giải pháp tăng cường thu hút FDI và triển khai hiệu quả các chính sách ưu đãi cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, cần thực hiện cơ chế chọn lọc trong thu hút các dự án đầu tư nước ngoài, đặc biệt lưu ý kiểm soát chặt chẽ đối với các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng lớn và ảnh hưởng lớn đến môi trường.

(6) Khuyến khích đầu tư tư nhân vào phát triển kinh tế xã hội thông qua việc cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư tư nhân, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của khu vực tư nhân để khai thác triệt để nguồn lực về thị trường, vốn, lao động bằng những ưu đãi về tài chính, đất đai.


[1] Chỉ số sản xuất công nghiệp quí I năm 2016 tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng giảm 0,6%; ngành chế biến, chế tạo tăng 9,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,8%.

[2] Tổng cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2017

[3] Nghị quyết 19 và 35 của Chính phủ trong năm 2016 được kỳ vọng là sẽ giúp giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết cũng như hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp tư nhân.


[1] Tăng trưởng tín dụng quý I một số năm: năm 2012 giảm 2,13%; năm 2013 tăng 0,03%; năm 2014 giảm 0,57%; năm 2015 tăng 1,25%; năm 2016 tăng 1,54%

[2] Theo NHNN chi nhánh TP HCM, Tổng dư nợ cho vay trung dài hạn trên địa bàn đã ở mức 56,4% dư nợ

[1] Công ty nghiên cứu thị trường và quảng bá toàn cầu (Mỹ)


[1] Ví dụ, khu vực FDI chiếm 97,3% kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện; 91,9% xuất khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác và 60,1% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và Dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202