Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Kết quả thực hiện các nhiệm vụ của ngành Y tế năm 2016

Cập nhật lúc: 20/04/2017 11:16:00 AM

I. Về thực hiện các chỉ tiêu được giao

Trong năm 2016, tình hình sức khỏe của người dân tiếp tục được cải thiện thông qua các chỉ số sức khỏe cơ bản đều được nâng lên. Ngành Y tế đã hoàn thành vượt mức hai chỉ tiêu được Quốc hội và Chính phủ giao là:

- Số giường bệnh trên 10.000 dân (không kể trạm y tế xã): Chỉ tiêu giao là 24,5, đạt 25,0 (tăng 0,5 giường);

- Tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt 81,7%, vượt mục tiêu Quốc hội giao (76%) là 5,7%, vượt mục tiêu Thủ tướng Chính phủ giao (79%) là 2,7%, đã đạt được mốc >80% dân số tham gia BHYT vào năm 2020.

Ngành Y tế cũng đã đạt và vượt 11/14 chỉ tiêu cơ bản của ngành (xem bảng 1).

Có 03 chỉ tiêu theo công bố của Tổng cục Thống kê gần đạt mục tiêu đề ra, gồm:

(1) Dân số trung bình (mục tiêu 92,4 triệu người, thực hiện đạt 92,7 triệu người);

(2) Tuổi thọ trung bình (mục tiêu 73,6 tuổi, thực hiện đạt 73,4 tuổi);

(3) Tỷ suất tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi/1.000 trẻ đẻ sống (mục tiêu 21,6%0, thực hiện đạt 21,8%0) do ngoài các can thiệp về y tế còn có các yếu tố kinh tế - xã hội khác ảnh hưởng đến quy mô dân số, đến tuổi thọ trung bình; các vấn đề về phòng chống tai nạn thương tích, ngộ độc, đuối nước đối với trẻ em cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi.

II. Một số kết quả quan trọng ở các lĩnh vực y tế

1. Tiếp tục tăng cường hiệu lực quản lý

Trong năm 2016, ngành Y tế đã tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý, đã trình và được ban hành Luật Dược 2016; 11/12 nghị định quy định điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực y tế đã được ban hành; hoàn chỉnh, trình Chính phủ xem xét ban hành Quy hoạch phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2035; ban hành các văn bản hướng dẫn về tổ chức bộ máy các đơn vị y tế tuyến địa phương theo hướng tinh giản đầu mối, phù hợp với hội nhập quốc tế nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực các tuyến.

Năm 2016, chỉ số cải cách hành chính của Bộ Y tế do Chính phủ công bố đã tăng 09 bậc so với 2015, từ xếp hạng thứ 17/19 bộ, ngành vươn lên thứ 8/19 bộ, ngành. Kết quả cho thấy đã có sự chuyển biến rõ rệt tại các bệnh viện, từ tư duy “phục vụ” sang “cung cấp dịch vụ”. Đã có sự đổi mới, đột phá và triển khai đồng bộ các giải pháp hướng tới sự hài lòng của người bệnh, tập trung vào việc đổi mới toàn diện phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên y tế đối với người bệnh; xây dựng cơ sở y tế xanh - sạch - đẹp; tăng cường quản lý các dịch vụ từ bên ngoài vào bệnh viện, các dịch vụ phi y tế.

Đề án xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2348/QĐ-TTg ngày 05/12/2016, làm cơ sở quan trọng để củng cố, đổi mới tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính, phát triển nguồn nhân lực để nâng cao năng lực cung ứng và chất lượng dịch vụ của mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao hiệu quả hoạt động của trạm y tế xã, thực hiện theo dõi, quản lý sức khỏe đến từng người dân.

2. Chủ động, tích cực phòng chống dịch bệnh

Năm 2016, tỷ lệ mắc và tử vong của hầu hết các bệnh truyền nhiễm giảm so với năm 2015, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Ngành đã thực hiện nhiều giải pháp, tăng cường chỉ đạo các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết, sốt rét, Zika; đã khống chế được dịch bạch hầu và ho gà xảy ra tại một số địa phương. Duy trì được tỷ lệ tiêm chủng mở rộng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt >90%. Chú trọng phòng, chống các bệnh không lây nhiễm, bệnh nghề nghiệp, tai nạn thương tích, y tế học đường; tăng cường quản lý môi trường y tế. Kiểm soát tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng ở mức dưới 0,3% và giảm số người nhiễm mới HIV.

Năm 2016, ngành Y tế đã sản xuất thành công vắc xin phối hợp sởi-rubella và dự kiến đưa vào tiêm chủng mở rộng từ năm 2017. Năm 2016, lần đầu tiên tại Việt Nam đã thực hiện phẫu thuật nội soi bằng robot cho người lớn.

3. Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm

Đã phân công nhiệm vụ rõ ràng và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành. Thực hiện thí điểm thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm được triển khai đồng bộ, quyết liệt từ trung ương đến địa phương, có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội đã tạo sự chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực. Tình hình ngộ độc thực phẩm đang được kiểm soát: năm 2016 đã giảm được cả về số vụ, số người mắc và số người tử vong do ngộ độc thực phẩm so với năm 2015.  

4. Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh

Tiếp tục triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp để giảm quá tải bệnh viện, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Đưa vào sử dụng nhiều công trình, bệnh viện; mở rộng mạng lưới bệnh viện vệ tinh đến tất cả 63 tỉnh, thành phố với 22 bệnh viện hạt nhân và 98 bệnh viện vệ tinh; cải tiến quy trình khám bệnh; thực hiện kiểm tra, đánh giá bệnh viện theo bộ 83 tiêu chí chất lượng.

Tăng cường công tác chỉ đạo tuyến, chuyển giao gói kỹ thuật, thực hiện nghĩa vụ luân phiên. Tiếp tục tăng cường quản lý và khuyến khích phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập; tập trung củng cố mạng lưới y tế biển, đảo; cải thiện công tác khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền của từng tuyến; hoàn thành giai đoạn thí điểm mô hình bác sỹ gia đình và đã có kết quả ban đầu tích cực, bắt đầu nhân rộng ra toàn quốc.

Năm 2016, Bộ mã danh mục dùng chung trong quản lý khám chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế được xây dựng và triển khai rộng rãi, hoàn thành việc kết nối liên thông cơ sở dữ liệu giữa cơ sở khám, chữa bệnh với cơ quan bảo hiểm xã hội nhằm quản lý đầy đủ, chính xác thông tin về người bệnh và thuận lợi trong thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

5. Thực hiện các giải pháp phát triển dân số bền vững

Tiếp tục duy trì mức sinh thay thế, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; mở rộng sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh, tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; bảo đảm hậu cần đầy đủ và có chất lượng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; xây dựng Đề án chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi giai đoạn 2017-2025. Tăng khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng, triển khai các giải pháp nhằm hạn chế tai biến sản khoa, giảm tử vong bà mẹ và trẻ em.

Với mục tiêu phục vụ, mang lại hạnh phúc cho nhân dân nhất là những gia đình, phụ nữ không có khả năng sinh đẻ, ngành Y tế đã triển khai xây dựng các văn bản về mang thai hộ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014. Đầu năm 2016, đã có em bé đầu tiên ra đời bằng phương pháp mang thai hộ tại nước ta; đến nay đã có hơn 30 trường hợp đã sinh con trong số 200 hồ sơ mang thai hộ được duyệt và thực hiện.

6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ

Xây dựng mô hình đổi mới đào tạo y khoa tại Việt Nam theo hướng nâng cao chất lượng và hội nhập quốc tế với điểm thay đổi chính là phân định rõ hai hướng đào tạo là hệ nghiên cứu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý và hệ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế quản lý trong Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, Khung trình độ quốc gia Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; triển khai xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí để đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực y tế; tiếp tục triển khai Dự án Thí điểm đưa bác sĩ trẻ tình nguyện.

Nghiên cứu ứng dụng thành công một số kỹ thuật tiên tiến, góp phần chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả các bệnh hiểm nghèo, bệnh khó, đưa công nghệ một số lĩnh vực y học đạt tầm thế giới.

7. Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính y tế

Đẩy mạnh việc thực hiện lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế gắn với lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân, hỗ trợ người nghèo, người cận nghèo, các đối tượng chính sách trong khám chữa bệnh.

Trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế thay thế Nghị định số 85/2012/NĐ-CP. Tiếp tục rà soát để phân loại, chuyển một số đơn vị từ loại hình tự chủ một phần sang tự chủ toàn bộ chi phí hoạt động.

Đánh giá công tác xã hội hóa, liên doanh, liên kết, khám, chữa bệnh theo yêu cầu. Nghiên cứu mô hình và xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong y tế. Xây dựng gói dịch vụ y tế cơ bản, nhân rộng mô hình thí điểm phương thức thanh toán bảo hiểm y tế theo định suất và trường hợp bệnh.

Đưa tiền lương vào giá dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại 36 tỉnh, thành phố, trong đó có Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh theo lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ công, góp phần giảm số người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tái cơ cấu phân bổ ngân sách, chuyển ngân sách cấp cho bệnh viện sang hỗ trợ người dân tham gia bảo hiểm y tế để thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân.

8. Tăng cường quản lý thuốc, vắc xin, sinh phẩm và trang thiết bị y tế

Đảm bảo cung ứng đủ về số lượng, an toàn về chất lượng và giá cả hợp lý cho khám, chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh, thiên tai. Luật Dược đã được Quốc hội thông qua ngày 06/4/2016, là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển ngành dược và cung ứng thuốc cho nhân dân. Tiếp tục triển khai Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”.

Ban hành và thực hiện các quy định về đấu thầu mua thuốc tập trung ở cấp quốc gia và cấp địa phương; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết thành lập Trung tâm mua sắm tập trung thuốc quốc gia để triển khai đấu thầu tập trung, đàm phán giá thuốc.

--------------------

Source: Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2016 và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2017 của Bộ Y tế

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: TS. Đoàn Hải Yến (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202