Nghiên cứu > Hội thảo khoa học

Năng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế Việt Nam: Phát hiện từ nghiên cứu thực chứng

Cập nhật lúc: 24/11/2017 12:35:00 PM

Sáng ngày 24/11/2017, tại Hà Nội, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), Bộ Kế hoạch và Đầu tư  đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế thường niên 2017 với chủ đề: “Năng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế Việt Nam: Phát hiện từ nghiên cứu thực chứng”. Đây là Hội thảo tiếp nối thành công của chuỗi Hội thảo khoa học quốc tế thường niên từ năm 2010 của NCIF phối hợp với cơ quan Viện trợ Ailen (Irish Aid). Hội thảo khoa học nằm trong Chương trình chia sẻ kinh nghiệm phát triển do Chính phủ Ailen tài trợ (Chương trình IDEAS).

Chủ trì Hội thảo có ông Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư; Giáo sư John FitzGerald, Khoa Kinh tế, Đại học Trinity Dublin; Tiến sĩ Lương Văn Khôi, Phó Giám đốc phụ trách NCIF. Tham dự hội thảo có bà Reachbha FitzGerald, Phó Ban Phát triển, Đại sứ quán Ailen tại Việt Nam; đông đảo các chuyên gia trong và ngoài nước, các nhà khoa học, các nhà quản lý và các cơ quan thông tấn báo chí.

Ông  Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Đặng Huy Đông nhận định: "Kinh tế Việt Nam đang bước vào thời kỳ chuyển đổi quan trọng với kỳ vọng đột phá của tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Với nỗ lực cải cách trong nước cùng với những tác động tích cực từ quá trình hội nhập, tốc độ tăng trưởng kinh tế được dự báo sẽ cao hơn so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, nền kinh tế cũng đứng trước nhiều thách thức và áp lực không nhỏ, trong đó nổi bật lên là vấn đề năng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế. Năng suất của nền kinh tế Việt Nam được cho là thấp, tính đổi mới sáng tạo không cao và các doanh nghiệp Việt Nam chưa tạo được lợi thế so sánh cần thiết. Làm thế nào để tạo được lợi thế từ việc thu hút FDI và tăng năng suất thông qua đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực? Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng theo chiều rộng dần tiệm cận mức tới hạn, Việt Nam xác định mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, trong đó chú trọng yếu tố thể chế, cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ và con người. Đồng thời, Việt Nam cũng chú trọng đến việc xem xét ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới năng suất và đổi mới sáng tạo tới sự phát triển của nền kinh tế. Việc xem xét các loại và cấu phần của năng suất, đánh giá tác động của yếu tố (bao gồm tự do hóa thương mại, cải cách thể chế, vốn nhân lực, ….. và cổ phần hóa) tác động tới năng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế cần được thực hiện một cách nghiêm túc trên cơ sở khoa học để đưa ra được những dự báo, cảnh báo sớm phục vụ công tác hoạch định, xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp".

Còn theo bà Reachbha FitzGerald, Phó Ban Phát triển, Đại sứ quán Ailen tại Việt Nam, Hội thảo lần này hứa hẹn là một thành công lớn của cơ quan viện trợ Irish Aid và NCIF. Chủ đề nghiên cứu lần này cũng là một chủ đề nóng, quan trọng có tính cấp thiết khi nền kinh tế Việt Nam đang dần chuyển mình từ nền kinh tế nhỏ bé sang nền kinh tế tri thức. Sự phối hợp, trao đổi kinh nghiệm chuyên sâu giữa các nghiên cứu viên của hai cơ quan đã mở rộng nghiên cứu, đưa ra những con số tối ưu về năng suất lao động của nền kinh tế Việt Nam, đưa ra những gợi ý liên quan, đề xuất hướng điều chỉnh chính sách phục vụ quản lý nhà nước. Bởi cải cách thể chế giúp nền kinh tế ứng phó với những điều kiện thay đổi và thúc đẩy đổi mới, tác động tích cực tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tránh được vấn đề lợi ích nhóm và công nghệ lạc hậu, qua đó sẽ góp phần tăng năng suất của cả nền kinh tế.

Bà Reachbha FitzGerald, Phó Ban Phát triển, Đại sứ quán Ailen tại Việt Nam

Tiến sĩ Lương Văn Khôi (PGĐ phụ trách NCIF) đưa ra nhận định trong phần đề dẫn: "Có nhiều nhân tố tác động tới năng suất và đổi mới sáng tạo. Các nghiên cứu tại hội thảo lần này tập trung chủ yếu vào các yếu tố bên trong (bao gồm công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực/vốn nhân lực, trình độ quản lý và hiệu quả sử dụng đầu vào và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp) và các yếu tố bên ngoài (bao gồm hội nhập, thể chế, và môi trường kinh doanh), năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động. Các yếu tố này đều có quan hệ và xác định lẫn nhau. Sự thay đổi của năng suất là do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành quyết định gồm sự thay đổi về công nghệ (thay đổi đường tiềm năng sản xuất), sự thay đổi về hiệu quả kỹ thuật (thay đổi khoảng cách tới đường tiềm năng), hiệu quả sản xuất hay hiệu quả kỹ thuật thuần túy (do những yếu tố nội tại hay bên trong của doanh nghiệp quyết định) và hiệu quả quy mô (do những tác động của yếu tố môi trường kinh doanh, hạ tầng, thể chế và hội nhập, thị trường và biến động của thị trường) quyết định".

TS Lương Văn Khôi, Phó Giám đốc phụ trách NCIF

TS Lương Văn Khôi cũng đưa ra những câu hỏi cần thảo luận để đưa ra lời giải đáp trong Hội thảo lần này, đó là: (1) Đo lường năng suất hiện nay ở Việt Nam đang ở mức độ nào? Cần thay đổi gì? (2) Các yếu tố khác nhau tác động đến năng suất ở mức độ nào, yếu tố nào là quan trọng từ nay tới năm 2020, năm 2025 và xa hơn là 2035?

Trong bài trình bày liên quan đến năng suất và tăng trưởng, Tiến sĩ Đặng Đức Anh (Trưởng Ban Phân tích và Dự báo của NCIF) cho rằng, kinh tế Việt Nam năm 2017 dự kiến sẽ có những con số ấn tượng. Tuy nhiên, xuất khẩu và tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào khối đầu tư nước ngoài (tăng trưởng dự kiến 2017 khoảng 6,72%); tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước chậm; hiệu quả quản trị hạn chế; hiệu quả đầu tư chưa có cải thiện rõ nét; áp lực nợ công và trả nợ lớn; chi phí tuân thủ điều kiện kinh doanh còn cao. Nói về bối cảnh kinh tế 2018-2020, TS Đặng Đức Anh cũng đưa ra nhận định: Kinh tế và thương mại thế giới có xu hướng hồi phục tích cực, giá các hàng hóa cơ bản tăng trở lại. Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CTTPP) là động lực thúc đẩy thương mại khu vực. Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tác động mạnh mẽ đến sản xuất, tiêu dùng, giá cả, việc làm nhưng cũng sẽ làm gia tăng những bất bình đẳng. Nguy cơ bị rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, tăng trưởng kinh tế vẫn dựa trên lao động rẻ, vốn đầu tư và trình độ công nghệ thấp. Sự phụ thuộc vào khối đầu tư nước ngoài có thể ngày càng lớn.

TS Đặng Đức Anh, Trưởng ban Ban Phân tích và Dự báo, NCIF.

Dựa trên mô hình kinh tế lượng vĩ mô Việt Nam được NCIF xây dựng trong khuôn khổ chương trình chia sẻ kinh nghiệm của Ailen (IDEAS) cho thấy, hai nhân tố quan trọng đóng góp cho năng suất và đổi mới sáng tạo của kinh tế là đầu tư công và cải cách doanh nghiệp nhà nước trong trung hạn. Cụ thể, nếu cải cách tổng thể tất cả doanh nghiệp nhà nước có thể tăng 10% sản lượng của nền kinh tế thông qua tăng năng suất. Nếu tăng năng suất của doanh nghiệp nhà nước lên 2% sẽ tăng 1,14% GDP, 2,26% sản lượng công nghiệp và 1,15% sản lượng xuất khẩu.

Trong tham luận của PGS. TS Nguyễn Lan Hương (Nguyên Viện trưởng Viện khoa học lao động và xã hội) nổi lên vấn đề mối quan hệ giữa năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực. Năng suất lao động là một chỉ số chính của thị trường lao động, phản ánh tăng trưởng kinh tế bền vững, khả năng cạnh tranh và hiệu quả trong sử dụng lao động của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam hiện tại vẫn đang có một khoảng cách lớn về năng suất lao động giữa các ngành, cũng như khi so sánh với các nước khác trong cùng khu vực. Có rất nhiều nhân tố tác động đến năng suất lao động Việt Nam và chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nhân tố đó. Chất lượng nguồn nhân lực (lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật) lại là nhân tố quan trọng tác động đến thay đổi năng suất lao động, song các nghiên cứu tại Hội thảo sử dụng rất nhiều các phương pháp phân tích, tiếp cận số liệu nhưng tựu trung lại đều có chung nhận định ở Việt Nam, mức độ tác động của chất lượng nguồn nhân lực (phản ánh trên tiêu trí đo lường trình độ đào tạo của người lao động) đến năng suất lao động còn rất thấp. Hay nói cách khác chất lượng nguồn nhân lực chưa thực sự là động lực của tăng trưởng năng suất lao động. Xét theo trình độ đào tạo, nhóm có trình độ đào tạo trung cấp (lao động được đào tạo trung cấp nghề, cao đẳng) có ảnh hưởng mạnh nhất tới năng suất lao động nhưng Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực này. Tỷ lệ lao động trẻ tuổi và chưa qua đào tạo rất lớn là rào cản của tăng năng suất lao động của Việt Nam.

PGS. TS Nguyễn Lan Hương, Nguyên Viện trưởng Viện khoa học lao động và xã hội

Trong các tham luận tại Kỷ yếu Hội thảo cho thấy, thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay đang thiếu hụt trầm trọng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt là lao động bậc trung, chỉ đáp ứng được 20-30% nhu cầu lao động trong giai đoạn 2010-2015. Tỷ lệ thiếu hụt trình độ chuyên môn kỹ thuật chung của cả nền kinh tế trong giai đoạn này tăng từ 28% lên tới gần 33%. Ngoài ra, nền kinh tế còn xảy ra tình trạng sử dụng bất hợp lý nguồn nhân lực. Tỷ lệ không sử dụng hết trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động Việt Nam tăng từ 16% lên 24% trong giai đoạn 2010-2015.

Chia sẻ kinh nghiệm của Ailen về chiến lược dài hạn để tăng năng suất, GS.TS John FitzGerald đến từ Đại học Trinity Dublin cho biết các yếu tố như giáo dục, các hiệp định thương mại tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò chủ đạo trong vấn đề tăng năng suất của Ailen. Hiện nay, FDI chiếm khoảng 15% tổng sản lượng và lực lượng lao động của Ailen. FDI của Ailen đã tác động làm thay đổi nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Ailen thông qua các kênh khác nhau như: mang theo nguồn lực tài chính và công nghệ mới; giúp tiếp cận nhanh với thị trường nước ngoài; kỹ năng quản lý doanh nghiệp hiện đại…

 GS.TS John FitzGerald, Đại học Trinity Dublin

Trong phần bình luận, đa số các chuyên gia khoa học đánh giá cao các tham luận được trình bày tại hội thảo đã có các phát hiện rất quan trọng xác định năng suất và đổi mới sáng tạo là yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình đổi mới nền kinh tế. Các bài nghiên cứu đều đưa ra những con số xác thực, cụ thể về nhân tố tác động đến năng suất và đều chỉ ra rằng yếu tố con người, yếu tố đào tạo nguồn nhân lực, yếu tố công nghệ yếu tố thể chế chính sách…đóng vai trò then chốt trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.

Thêm vào đó, trong phần bình luận của mình, TS Lê Xuân Sang (Phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam - Viện Hàn lâm khoa học xã hội) nhấn mạnh thêm sẽ tốt hơn nếu các tham luận có khai thác thêm và có nghiên cứu sâu hơn về việc phát triển công nghệ hỗ trợ trong bối cảnh mới khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và việc phát triển công nghệ bậc cao đang phát triển mạnh mẽ.

TS Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam - Viện Hàn lâm khoa học xã hội

TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh (Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) đề xuất thêm cho các diễn giả cần khai thác thêm các cách tiếp cận mới trong đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo cần hướng đến thực tiễn nhiều hơn và cần tính đến mục tiêu lâu dài. Hơn nữa, thể chế sáng tạo cũng là một yếu tố rất quan trọng khi Việt Nam đang rất cần một môi trường cạnh tranh sáng tạo và công bằng cho tất cả các doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc (Phó Viện trưởng, Viện khoa học Lao động, Thương binh và Xã hội) đưa ra các dẫn chứng và nhấn mạnh thêm rằng việc đưa kiến thức nhà trường để áp dụng khi làm việc còn yếu vậy nên các tham luận của nhà nghiên cứu sẽ là đầy đủ hơn khi làm rõ được mối quan hệ chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động ở các doanh nghiệp, và với các khuyến nghị chính sách cần được làm rõ cụ thể hơn, sâu hơn để sử dụng vốn con người

PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc (Phó Viện trưởng, Viện khoa học Lao động, Thương binh và Xã hội)

Ông Nguyễn Văn Nhàn, Giám đốc Doanh nghiệp Dệt may cũng nhận thấy rằng thể chế là yếu tố quan trọng và có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của doanh nghiệp. Với quản lý hiện tại của Nhà nước cũng là một điểm khó khăn cho các hoạt động của doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại. Với hy vọng một nền kinh tế phát triển hơn, các doanh nghiệp luôn mong muốn một thể chế hợp lý, cụ thể để doanh nghiệp có thể phát triển thuận lợi.

Kết luận Hội thảo, TS Lương Văn Khôi khẳng định tầm quan trọng của năng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế Việt Nam đồng thời cũng đưa ra vài hàm ý chính sách có tác động mạnh tới năng suất đóng góp cho việc phát triển kinh tế, trong đó nổi lên là các hàm ý chính sách về: (1) Thể chế và cơ cấu kinh tế, môi trường kinh doanh: cần cải thiện theo hướng làm tăng hiệu quả phân bổ, hiệu quả kỹ thuật, kích thích đầu tư công nghệ; (2) Khoa học công nghệ: nhà nước đóng vai trò hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao trình độ khoa học công nghệ thông qua các quỹ khoa học công nghệ hiện nay; (3) Hội nhập quốc tế: Tác động hai chiều cả tích cực lẫn tiêu cực tới năng suất; (4) Nguồn lao động: Tăng khả năng chuyển đổi lao động giữa các ngành năng suất thấp và năng suất cao, thị trường lao động cần cải thiện để tăng tính lưu động giữa các vùng (5) Cổ phần hoá và hiệu quả doanh nghiệp.

Một số hình ảnh của các đại biểu tại hội thảo: 

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: BBT
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202