Tin Kinh tế- xã hội  > Sự kiện nổi bật

Tác động của CPTPP tới kinh tế Việt Nam trong thời gian tới

Cập nhật lúc: 18/06/2018 09:54:00 AM

Ngày 9/3/2018, tại Chile, 11 quốc gia thành viên (Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam) đã ký kết Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Trước sự kiện quan trọng này, Biên tập viên của Cổng thông tin điện tử của NCIF đã có cuộc trao đổi với Tiến sỹ Lương Văn Khôi (Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội quốc gia) nhằm làm rõ hơn những tác động của CPTPP tới nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

BTV: Khi gia nhập CPTPP thì nhìn chung nền kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động như thế nào, thưa Tiến sỹ?

Tiến sỹ Lương Văn Khôi: Về tổng thể CPTPP vẫn có lợi cho Việt Nam so với trường hợp Việt Nam không tham gia, song thấp hơn nhiều so với TPP12. Cụ thể do tác động của cắt giảm thuế quan, CPTPP có thể giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 1,32%. Trong trường hợp Việt Nam đồng thời cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ theo kịch bản mở cửa dịch vụ thì GDP có thể tăng thêm 2,01%. Đặc biệt là nếu năng suất lao động của nền kinh tế được cải thiện hơn ít nhất trong 3 năm đầu tiên sẽ đảm bảo duy trì tác động tích cực của CPTPP. Nếu năng suất lao động của nền kinh tế tăng thêm khoảng 1%, thì đến năm 2036 GDP Việt Nam có thể tăng thêm 3,9% và kim ngạch xuất khẩu (KNXK) có khả năng tăng thêm 8,4%.

Về xuất nhập khẩu, so với trường hợp không tham gia CPTPP, KNXK có thể sẽ tăng thêm 4%, trong khi đó kim ngạch nhập khẩu (KNNK) cũng có khả năng tăng thêm khoảng 3,8%-4,6% và nhiều khả năng nguy cơ thâm hụt thương mại được kiềm chế theo thời gian. Mức tăng thêm KNXK chủ yếu do tốc dộ tăng xuất khẩu tới các nước trong nội khối CPTPP, trong khi đó nếu không xử lý tốt vấn đề nguồn xuất xứ trong CPTPP thì mức tăng nhập khẩu sẽ đến chủ yếu từ các nước ngoài CPTPP như Trung Quốc và Hàn Quốc. Nếu vậy, Việt Nam sẽ không được hưởng lợi nhiều và không tận dụng được cơ hội do CPTPP đem đến.

Về thu hút FDI, theo cơ cấu FDI của 11 nước CPTPP vào Việt Nam chiếm khoảng 25%, trong đó Nhật Bản là nước có FDI vào Việt Nam là lớn nhất (chiếm 41,5%), tiếp đến là Singapore (38,3%) và Malaysia (11,7%). Các nước khác như Canada, New Zealand, Brunei, Australia chiếm tỷ trọng không đáng kể. Việc thu hút FDI từ các nước phát triển của CPTPP vẫn còn nhỏ, do đó dư địa thu hút còn rất lớn. Nhưng chúng ta vẫn còn phải cạnh tranh rất lớn từ các nước ASEAN còn lại trong thu hút FDI. Việc Mỹ không tham gia TPP khiến FDI vào Việt Nam sẽ giảm đi rất nhiều do mất đi sức hấp dẫn của thị trường Mỹ. Nguyên nhân bởi nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, muốn tranh thủ TPP để tận dụng thị trường xuất khẩu vào Mỹ. Bên cạnh đó, môi trường đầu tư và kinh doanh của Việt Nam trong thời gia qua đã có sự cải thiện đáng kể cùng với việc hiện Việt Nam đang tham gia nhiều FTA, FDI vào Việt Nam do tác động của CPTPP sẽ không quá lớn. Tuy nhiên, Việt Nam có thể thu hút một lượng FDI đáng kể từ những nền kinh tế như Canada, Australia, New Zealand… Các nước này có thể đầu tư vào Việt Nam để xuất khẩu tại chỗ.

Về các ngành kinh tế, CPTPP cũng có tác động đến việc tăng sản lượng của các ngành là không lớn. Ngoài những ngành chế tác thâm dụng lao động và những nhóm ngành thâm dụng vốn có tác động tích cực ra, nhóm các ngành chăn nuôi, chế biết thực phẩm có khả năng sẽ chịu tác động tiêu cực nhẹ.

BTV: Vấn đề năng suất của nền kinh tế Việt Nam sẽ thay đổi thế nào khi CPTPP có hiệu lực, thưa ông?

Tiến sỹ Lương Văn Khôi: Do sự cải thiện về năng suất của nền kinh tế và sự mở cửa ngành dịch vụ song hành với việc cắt giảm thuế quan theo cam kết của CPTPP có tác động lớn tới kinh tế-xã hội Việt Nam nên cần có giải pháp thích hợp để nâng cao năng suất của nền kinh tế nói chung và của ngành dịch vụ nói riêng khi mở cửa ngành này trong hội nhập quốc tế, đặc biệt là khi tham gia CPTPP. Đối với tiểu ngành dịch vụ tài chính và bảo hiểm (tiểu ngành có tác động lan tỏa, kích thích tăng trưởng chung của nền kinh tế lớn) thì năng suất, cụ thể là năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) có sự suy giảm trong giai đoạn 2012-2017. Cụ thể nếu giai đoạn 2012-2015, TFP ngành này tăng 14,7% thì giai đoạn 2015-2017 chỉ tăng ở mức 14%. Sự suy giảm này do sự suy giảm mạnh bởi sự thay đổi về hiệu quả quy mô, do các yếu tố bên ngoài như môi trưởng kinh doanh, thể chế, mức độ hội nhập quốc tế,… gây ra; trong khi có sự thay đổi tích cực về công nghệ của ngành. Do đó, cần phải có giải pháp phù hợp, kịp thời đối với những vấn đề trên để thúc đẩy ngành này tăng trưởng và phát triển. Tiểu ngành thương mại có số doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành dịch vụ, có TFP cải thiện mạnh trong giai đoạn trên, do có sự cải thiện đáng kể về sự thay đổi hiệu quả của doanh nghiệp của ngành (catch-up effect--bao gồm hiệu quả quy mô và hiệu quả kỹ thuật thuần túy do các yếu tố nội tại doanh nghiệp của ngành này quyết định). Tuy nhiên, sự dịch chuyển về công nghệ (làm dịch chuyển đường sản lượng tiềm năng) thì lại có sự suy giảm trong giai đoạn nghiên cứu. Tiểu ngành vận tải là logistics cũng có TFP được cải thiện, song chủ yếu được đóng góp bởi sự thay đổi về công nghệ và cả hai yếu tố của sự thay đổi về hiệu quả của doanh nghiệp trong ngành lại có sự suy giảm, trong đó sự thay đổi về hiệu quả quy mô giảm khác mạnh do yếu tố hội nhập, môi trường kinh doanh,… của tiểu ngành này còn tồn tại nhiều hạn chế. Tương tự như tiểu ngành vận tải và logistics, tiểu ngành Du lịch, khách sạn và nhà hàng cũng có TFP được cải thiện trong giai đoạn nghiện cứu và của yếu do sự thay đổi về công nghệ đóng góp và cả hai yếu tố về hiệu quả của doanh nghiệp có sự suy giảm khá mạnh trong giai đoạn trên. Tiểu ngành công nghệ thông tin, mặc dù có sự thay đổi tích cực về công nghệ, song do cả hai thành tố hiệu quả của doanh nghiệp giảm mạnh nên TFP của tiểu ngành này có sự suy giảm trong giai đoạn 2012-2017.

BTV: Rõ ràng những cơ hội cho Việt Nam là rất rộng mở, vậy theo Tiến sỹ, Việt Nam cần làm gì để nắm bắt và hiện thực hóa một cách hiệu quả những cơ hội đó?

Tiến sỹ Lương Văn Khôi: Mặc dù những lợi ích mà CPTPP mang lại cho Việt Nam là đáng quan tâm, song việc có tận dụng được các cơ hội mà CPTPP mang lại hay không và việc có hiện thực hóa được lợi ích của CPTPP hay không phụ thuộc rất lớn vào việc Việt Nam có thể đẩy nhanh và làm tốt trong việc tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới thể chế, mô hình tăng trưởng có phù hợp với tốc độ mở cửa trong CPTPP hay không. Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải có giải pháp quyết liệt và phù hợp để giải quyết tốt vấn đề "nguồn gốc xuất xứ" trong CPTPP. Cụ thể là nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong nước (yếu tố quan trọng để nâng cao TFP) và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, cụ thể là cần nghiên cứu sâu các ngành của nền kinh tế trên cơ sở đó xây dựng các chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng của các ngành để thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước theo các chuỗi này. Đồng thời có những giải pháp phù hợp và quyết liệt để nâng cao năng suất của nền kinh tế nói chung và của từng ngành nói riêng.

BTV: Xin cảm ơn Tiến sỹ!

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Lê Ninh
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202