Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới

Bối cảnh địa chính trị thế giới mới và cạnh tranh chiến lược giữa các nước giai đoạn từ nay đến 2025

Cập nhật lúc: 31/12/2018 10:00:00 AM

1. Chính sách “Nước Mỹ trên hết” của tổng thống Donald Trump

Năm 2017 đã chứng kiến sự chuyển biến, thậm chí đảo ngược, trong nhiều chính sách đối nội và đối ngoại của nước Mỹ.  Chính sách "Nước Mỹ trên hết" của tổng thống Mỹ Donal Trump đã có những bước đi quyết liệt và gây tranh cãi, nhưng cũng rất thực dụng, theo hướng đảo ngược chính sách so với chính phủ tiền nhiệm cả về đối nội và đối ngoại, miễn sao mang lại lợi ích cho nước Mỹ. Chính ông Donald Trump đã khẳng định Mỹ "sẽ đứng lên vì chính mình", và thể hiện điều này bằng các hành động đơn phương hoặc quay lưng với những bên khác trong các vấn đề như thương mại, biến đổi khí hậu, biên giới hay nhập cư.

Về đối ngoại, Tổng thống Donald Trump trong năm đầu nhiệm kỳ đã thực hiện đúng những cam kết tranh cử với hàng loạt điều chỉnh quan trọng theo hướng giảm bớt các cam kết đa phương, giảm mức đóng góp cho các tổ chức quốc tế, thay vào đó là nhấn mạnh các mối quan hệ song phương.

Điển hình là ông Trump đã đưa Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu hay Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học Liên hiệp quốc (UNESCO), công kích thỏa thuận hạt nhân Iran, ban hành lệnh cấm đi lại với công dân các nước có đa số người Hồi giáo, đàm phán lại các thỏa thuận thương mại đa phương và song phương như Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) với Mexico và Canada, FTA với Hàn Quốc,…

Bên cạnh đó, Mỹ còn áp đặt các biện pháp bảo hộ thương mại với một loạt nước có thặng dư thương mại lớn với mình, với lập luận rằng tình trạng mất cân bằng thương mại kéo dài là nguyên nhân khiến kinh tế Mỹ trì trệ và người lao động Mỹ mất việc làm. Đồng thời, Mỹ cũng điều chỉnh chính sách thuế nội địa nhằm tăng cường thu hút đầu tư ngược trở lại nước Mỹ và kích thích nền kinh tế.

Dưới tác động của chiến lược mới do Mỹ triển khai, nhiều mối quan hệ quốc tế cũng có những chuyển động mới. Quan hệ của Mỹ với hai đồng minh truyền thống ở Đông Bắc Á là Hàn Quốc và Nhật Bản đã ấm hơn sau khi Hàn Quốc và Nhật Bản cam kết nâng mức đóng góp nhằm san sẻ gánh nặng chi phí đảm bảo an ninh. Quan hệ giữa Mỹ với Triều Tiên đã được cải thiện sau cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều tại Singapore tháng 6/2018, nhưng đàm phán Mỹ-Triều Tiên về vấn đề hạt nhân vẫn chưa đạt được nhiều tiến triển. Quan hệ Mỹ-Nga, mặc dù đầu năm có những thuận lợi khi ông Trump công khai bày tỏ mong muốn cải thiện, nhưng rốt cuộc vẫn rơi xuống mức đáy kể từ thời Chiến tranh Lạnh khi hai bên liên tục có các biện pháp trả đũa ngoại giao nhằm vào nhau, bắt nguồn từ cáo buộc Nga can thiệp bầu cử Mỹ. Quan hệ song phương Mỹ-Cuba bị đảo ngược, thụt lùi so với thời cựu Tổng thống Barack Obama. Quan hệ giữa Mỹ với hai nước láng giềng gần gũi Canada và Mexico đã cải thiện hơn sau khi đạt được thỏa thuận thương mại mới có tên là Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) thay thế cho Hiệp định NAFTA.

Kinh tế Mỹ trong thời gian gần đây đã được cải thiện rất nhiều so với hai năm trước. Điều này đã chứng minh những điểm đúng đắn trong chính sách “Nước Mỹ trên hết” của ông Trump. Tuy nhiên, Tổng thống Trump vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi điều hành đất nước. Ông Trump trở thành vị Tổng thống Mỹ có mức uy tín thấp kỷ lục trong năm cầm quyền đầu tiên khi có khoảng 60% người Mỹ không hài lòng về cung cách ông điều hành công việc.

Khả năng ông Donald Trump có tiếp tục tái đắc cử tổng thống trong cuộc bầu cử năm 2020 để thực hiện chiến lược “nước Mỹ trên hết” hay không còn chưa chắc chắn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là kinh tế Mỹ trước bầu cử. Một số yếu tố có thể giúp ông Donald Trump giành lợi thế trong cuộc bầu cử năm 2020 bao gồm:

Thứ nhất, trong lịch sử bầu cử tổng thống Mỹ, các đảng cầm quyền (đảng Cộng hòa hoặc đảng Dân chủ) thường giành được thắng lợi bầu cử trong hai nhiệm kỳ liên tiếp và chỉ thất bại trong nhiệm kỳ tiếp theo. Hiện nay, đảng Cộng hòa của tổng thống Donald Trump mới đang ở nhiệm kỳ thứ nhất, do vậy nhiều khả năng đảng Cộng hòa sẽ tiếp tục giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tiếp theo diễn ra vào năm 2020. Thứ hai, mặc dù mức độ ủng hộ của người dân đối với tổng thống Donald Trump vẫn dưới 50% (Biểu đồ 1), nhưng đã cao hơn so với thời điểm ông Trump giành được thắng lợi bầu cử vào cuối năm 2016 (khoảng 37%). Thứ ba, kinh tế Mỹ tăng trưởng vượt bậc (4,2%) trong quý II/2018 (tốc độ tăng thường niên, so với quý trước) và dự báo tiếp tục tăng trưởng mạnh trong những quý tới đã giúp tăng cường lòng tin của công chúng về khả năng điều hành kinh tế của tổng thống Donald Trump.

Biểu đồ 1: Mức độ ủng hộ của người Mỹ đối với tổng thống Donald Trump

Nguồn: RealClearPolitics.

Tuy nhiên, tổng thống Donald Trump vẫn cóp khả năng thất bại trong cuộc bầu cử năm 2020 do một số yếu tố: Thứ nhất, trong lịch sử bầu cử tổng thống Mỹ, các tổng thống đã thất bại trong nhiệm kỳ tiếp theo (như tổng thống Carter và Bush 41) đều có điểm chung là lòng tin của người tiêu dùng suy giảm vào quý 3 ở năm thứ ba kể từ khi họ lên nắm quyền, trong khi đối với những tổng thống đã tái đắc cử thành công (như Obama, Bush 43, Reagan và Cliton), lòng tin của người tiêu dùng thời kỳ này đều tăng (John W. Schoen & Jacob Pramuk 2018). Do vậy, nếu kinh tế Mỹ vào nửa cuối năm 2019 không còn sáng sủa như hiện nay, đặc biệt là do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và thâm hụt ngân sách từ cải cách thuế của Mỹ), tổng thống Trump nhiều khả năng sẽ thất bại. Hơn nữa, mức độ ủng hộ của công chúng kể từ khi ông Trump lên nắm quyền chỉ vẫn ở mức thấp – hiện khoảng 42,7% (Biểu đồ 1), cho thấy khả năng Đảng Cộng hòa thất bại trong bầu cử giữa kỳ tháng 11/2018 hay tổng thống Trump thất bại trong bầu cử năm 2020 vẫn có thể xảy ra.

1.Sáng kiến “Vành đai và con đường”của Trung Quốc và phản ứng của các nước

Sáng kiến "Vành đai và con đường" (BRI) - được Chủ tịch Tập Cận Bình công bố vào  năm 2013 - là một nỗ lực dài hạn của Trung Quốc nhằm kết nối các khu vực của châu Á, Trung Đông, châu Phi và châu Âu thông qua việc xây dựng các cảng, đường ray, đường bộ, đường ống dẫn dầu và các mạng viễn thông và các loại hình cơ sở hạ tầng khác. Về mặt địa lý, BRI bao gồm các quốc gia chiếm 65% dân số thế giới và 1/3 sản lượng kinh tế thế giới. Trung Quốc có kế hoạch dành 1.000 tỷ USD để hỗ trợ cho chiến lược này, hiện bao gồm 2 phần chính: một “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” kéo dài từ Đông Nam Á qua Ấn Độ Dương tới biển Địa Trung Hải; và một “Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa” trải dài khắp khu vực Á-Âu với các nhánh kết thúc ở Pakistan, châu Âu và các địa điểm tiềm năng khác nữa. Một “Con đường tơ lụa kỹ thuật số mới” bao phủ cả hành lang trên biển và trên đất liền với cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin liên lạc có thể cuối cùng sẽ trở thành phần chính thứ 3 của BRI.

BRI có mục tiêu rất tham vọng. Ngay cả khi nhiều dự án chưa bao giờ được thực hiện đầy đủ hoặc đã thất bại, sáng kiến này vẫn có thể định hình lại bối cảnh kinh tế và địa chính trị của vành đai Ấn Độ Dương và khu vực Á-Âu theo những cách có thể gây ra một thách thức đối với trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc hiện nay. Các hoạt động cho vay của Trung Quốc liên quan đến BRI đôi khi chệch ra khỏi các tiêu chuẩn toàn cầu, chẳng hạn như các thủ tục đầu tư minh bạch phù hợp với pháp trị và các phương hướng cho sự bền vững xã hội và môi trường. Bằng cách cho các nước khác vay ở mức vượt quá khả năng chi trả của họ, Trung Quốc được cho là đã tạo ra những chiếc bẫy nợ mà sau đó sẽ biến thành lợi thế đòn bẩy về tài chính và các quan hệ ngoại giao không bình đẳng. Điều này đem lại cho Trung Quốc một cơ hội để tận dụng cơ sở hạ tầng lưỡng dụng được xây dựng nhờ các khoản đầu tư của BRI vào các cơ sở quân sự trong tương lai. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số gắn liền với BRI có thể góp phần làm xói mòn hơn nữa quyền con người ở các quốc gia quản lý kém.

Một nghiên cứu do Trung tâm phát triển toàn cầu đưa ra vào tháng 3/2018 cho biết trong 68 quốc gia tham gia BRI, đã có 23 nước rơi vào rủi ro “mắc nợ”, trong đó có 8 nước đã tăng rủi ro rơi vào “nợ công” (John Hurley, Scott Morris, and Gailyn Portelance, 2018). Hiện nay, do không thể hoàn trả khoản nợ cho Trung Quốc, Sri Lanka đã chuyển quyền kiểm soát cảng Hambantota có ý nghĩa chiến lược cho Trung Quốc theo hợp đồng thuê 99 năm trị giá 1,12 tỉ USD nhằm cứu vãn dự án thua lỗ này. Các dự án đường sắt cao tốc của Trung Quốc ở Đông Nam Á cũng rất đình trệ. Dự án đường sắt ở Thái Lan đến tháng 7/2018 mới khởi công (trễ 8 tháng so với kế hoạch ban đầu là tháng 11/2017). Dự án đường sắt Trung - Lào mặc dù đã bắt đầu khởi công, nhưng đã gây tranh cãi về khoản đầu tư khổng lồ. Dự án đường sắt cao tốc ở Indonesia do Trung Quốc đầu tư cũng bị đình trệ, mặc dù đạt được hợp đồng vào tháng 9/2015 nhưng đến nay vẫn chưa được khởi công.

Việc Trung Quốc mở rộng vai trò ảnh hưởng ở Trung Á cũng gây lo ngại cho Nga, tác động đến Liên minh kinh tế Á - Âu do Nga khởi xướng. Vì vậy Nga có thể áp dụng thái độ và hành động “ngăn chặn”. Ngoài ra, Trung Quốc thu lợi lớn hơn nhiều các nước Trung Á trong các dự án “Vành đai, con đường”, do vậy đã gây lo ngại cho các nước Trung Á, khiến cho các dự án này rơi vào khó khăn. Do đó có thể thấy BRI là một trong những công cụ đang tạo nên chiếc bẫy nợ cho nhiều quốc gia bị thu hút bởi các khoản vay hạ tầng gắn liền với viện trợ của Trung Quốc. Đến nay, trong các dự án Trung Quốc bỏ vốn ra xây dựng ở 35 quốc gia Âu - Á, có 89% nhà thầu là doanh nghiệp Trung Quốc, chỉ có 11% nhà thầu đến từ các nước khác. Nhìn tổng thể, chiến lược này đe dọa chủ quyền các nước đang phát triển, đem lại lợi ích lớn cho Trung Quốc, tạo thành lợi thế và tiền đề cho Trung Quốc "bành trướng" trên toàn cầu.

Ngày càng có nhiều nước trên thế giới quay lưng với các dự án thuộc sáng kiến BRI của Trung Quốc. Dự án đường sắt của Uzbekistan đã bị dừng lại do sự phản đối của Kyrgyzstan. Báo chí Nga gần đây cho rằng khi các dự án “Vành đai, con đường” ở khu vực Trung Á ngày càng nhiều, dư luận nước sở tại ngày càng cảnh giác với Trung Quốc. Malaysia dưới thời Thủ tướng mới đã hủy bỏ hoặc tạm hoãn một số dự án đầu tư của Trung Quốc (dự án đường sắt ven biển phía đông trị giá 20 tỷ USD và dự án đường dẫn khí đốt trị giá 2,3 tỷ USD mà Malaysia dự kiến hợp tác với Trung Quốc); Sierra Leone – một quốc gia nghèo ở châu Phi mới đây cũng đã hủy bỏ dự án sân bay  trị giá 318 triệu USD ở thủ đô Freetown hợp tác với Trung Quốc dự kiến hoàn thành vào năm 2022.

BRI cũng vấp phải phản ứng quyết liệt của Mỹ. Chính quyền tổng thống Obama trước đây đã thiếu một quan điểm chặt chẽ về BRI. Chính quyền của Tổng thống Donald Trump có quan điểm rõ ràng hơn về BRI, bày tỏ lo ngại về tác động của nó đối với các tiêu chuẩn toàn cầu và khả năng thúc đẩy các lợi ích địa chính trị của Trung Quốc. Mặc dù vẫn chưa tiết lộ một cách ứng phó có hệ thống đối với BRI, chính quyền Mỹ vẫn cho biết trong những năm tới, Mỹ sẽ cải tổ lại các thể chế tài chính dành cho phát triển của nước này để tạo động lực mới cho đầu tư vào khu vực tư nhân. Mỹ cũng kêu gọi các thể chế tài chính quốc tế (IFI-international financial institutions) dành nguồn lực lớn hơn nữa cho các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn. Tuy nhiên, ngay cả khi các IFI đi theo hướng này, cũng khó có những thay đổi ngay do thể chế, tổ chức phức tạp của các IFI; mặt khác nhiều tổ chức sẽ không chấp nhận trở thành công cụ cho Mỹ cạnh tranh với BRI, thay vào đó họ muốn hợp tác với Trung Quốc để định hình sáng kiến này từ bên trong.

Trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ tới châu Á tháng 11/2017, chính quyền của tổng thống Trump đã tuyên bố rằng cơ quan đầu tư tư nhân nước ngoài của Mỹ (OPIC) sẽ hợp tác cùng đối tác Nhật Bản để “mang lại các giải pháp thay thế chất lượng cao về đầu tư cơ sở hạ tầng Mỹ-Nhật trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”. Gần đây, Mỹ đã khởi động kế hoạch đầu tư ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, trước tiên bỏ ra khoản tiền 113 triệu USD để ủng hộ sự phát triển kinh tế của khu vực trên các phương diện như kinh tế số, công nghệ, cơ sở hạ tầng, năng lượng. Ngay sau khi Mỹ công bố kế hoạch kinh tế mới cho khu vực, các đồng minh thân cận của Mỹ như Australia, Nhật Bản đã hưởng ứng tích cực. Điều này báo hiệu một cuộc cạnh tranh chiến lược diễn ra ngày càng tăng ở khu vực giữa Trung Quốc với Mỹ và đồng minh. Cuộc đối đầu này có lẽ sẽ kéo dài và cần tiếp tục quan sát.

EU cũng chỉ trích chiến lược “Vành đai và con đường” của Trung Quốc là không công bằng, kìm hãm tự do thương mại và chủ yếu chỉ đem lại lợi ích cho các công ty Trung Quốc. EU cũng chỉ trích vai trò của Trung Quốc tại các nước thành viên như Hy Lạp, Hungary và Cộng hòa Czech và thái độ của Bắc Kinh về sở hữu trí tuệ. Phần lớn đầu tư của Trung Quốc ở Nam Âu và Đông Âu tập trung vào ngành năng lượng, công trình công cộng, hoặc liên quan đến những dự án hạ tầng đang có, như cảng Piraeus ở Hy Lạp, Trung Quốc giữ 51% cổ phần. Ngày 19/9/2018, các quốc gia EU đã thông qua “Chiến lược kết nối Âu-Á” mới với mục tiêu cải thiện giao thông, kỹ thuật số, năng lượng, đồng thời thúc đẩy các tiêu chuẩn về môi trường và lao động. Chiến lược mới được đưa ra sau khi Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker kêu gọi EU phải có một chính sách đối ngoại phù hợp với nền kinh tế của khối nhằm đối phó với cách tiếp cận "nước Mỹ trên hết" của Tổng thống Mỹ Donald Trump và ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Quốc ở châu Á và châu Phi.

Trong những năm tới, Trung Quốc dự kiến vẫn tiếp tục thúc đẩy chiến lược BRI của mình để gây ảnh hưởng kinh tế-chính trị thế giới, khai thông dòng chảy thương mại và xuất khẩu năng lực sản xuất dư thừa trong nước. Các nước châu Á Thái Bình Dương dự kiến sẽ tiếp nhận đầu tư lớn nhất từ chiến lược BRI của Trung Quốc do các quốc gia này đang trong giai đoạn thiếu hụt hạ tầng lớn. Theo ước tính, châu Á Thái Bình Dương sẽ cần chi tiêu khoảng 26 nghìn tỉ USD vào cơ sở hạ tầng từ nay đến 2030, trong đó riêng châu Á cần đầu tư khoảng 1,7 nghìn tỉ USD vào cơ sở hạ tầng trong 10 năm tới để duy trì tăng trưởng. Từ năm 2013-2017, Trung Quốc đã đầu tư tổng cộng 60 tỉ USD vào các nước BRI và cam kết sẽ đầu tư tổng cộng 600 tỉ USD trong vòng 5 năm tiếp theo, với nguồn vốn chủ yếu đến từ AIIB và NDB (Liew Mun Leong 2017). Một ước tính khác cho thấy Trung Quốc sẽ đầu tư thêm khoảng 1 nghìn tỉ USD cho dự án BRI trong vòng một thập kỷ tới (Anja Manuel 2017). Tuy nhiên, trong bối cảnh BRI vấp phải sự phản đối ở nhiều nước và nội tại kinh tế Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn do chiến tranh thương mại, BRI khó có thể thực hiện một cách thuận lợi. Đối với các nước tiếp nhận đầu tư từ BRI, sáng kiến này sẽ mang lại cả cơ hội và thách thức. Những cơ hội thu được bao gồm thúc đẩy hoàn thiện hệ thống hạ tầng, kết nối thương mại và kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, do các khoản đầu tư của Trung Quốc là các khoản cho vay thay vì viện trợ không hoàn lại, rủi ro nợ công và bị đối tác Trung Quốc thâu tóm tài sản là khá lớn.

2.Chiến lược của Nhật Bản trong bối cảnh địa chính trị thế giới mới

Chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ năm 2013 đến nay không nằm ngoài việc hướng đến đảm bảo và củng cố lợi ích quốc gia. Song song với việc bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, Nhật Bản xúc tiến thực hiện chính sách ngoại giao mang tính chiến lược với tên gọi “Nhìn toàn cảnh bản đồ thế giới,” hướng đến duy trì các giá trị toàn cầu như tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền và luật pháp. Ba trụ cột chính trong chính sách đối ngoại Nhật Bản gồm: (1) củng cố liên minh Mỹ - Nhật Bản; (2) tăng cường quan hệ với các láng giềng gồm Hàn Quốc, ASEAN, Nga, Ấn Độ, Úc; và (3) đẩy mạnh ngoại giao kinh tế là công cụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước. Nhìn chung, chính sách đối ngoại Nhật Bản là chính sách tích cực, chủ động ở trong phạm vi khu vực và toàn cầu, ở cả bình diện song phương và đa phương.

Theo đó, Đông Nam Á được coi là địa bàn triển khai chiến lược dưới thời Thủ tướng Abe. Về khía cạnh an ninh, một trong những mục tiêu lớn của Nhật Bản khi tăng cường can dự với khu vực Đông Nam Á là nhằm tìm kiếm đối tác chung trong việc đối phó với những tác động tiêu cực từ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Trên thực tế, Nhật Bản đối mặt với ngày càng nhiều thách thức đến từ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những năm trước, Trung Quốc đã chính thức vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới xét về quy mô GDP. Song song với sự lớn mạnh về kinh tế, sự phát triển về tiềm lực quốc phòng của Trung Quốc, đặc biệt là sự thiếu minh bạch trong việc tăng chi tiêu quốc phòng cũng gây nhiều lo ngại. Hơn nữa, những lo ngại của Nhật Bản đối với Trung Quốc còn do Trung Quốc sẵn sàng triển khai sức mạnh quân sự bên ngoài biên giới và công khai bày tỏ tham vọng về Biển Hoa Đông và Biển Đông. Tranh chấp giữa Nhật Bản với Trung Quốc xoay quanh quần đảo Điếu Ngư/Senkaku tại Biển Hoa Đông nóng lên kể từ năm 2012. Kể từ đó, Trung Quốc được cho là thường xuyên có những hành động gây hấn đơn phương. Trên thực địa, tàu hải giám và các tàu thuyền Trung Quốc thường xuyên hoạt động xung quanh đảo tranh chấp. Trong bối cảnh đó, Nhật Bản có nhu cầu thúc đẩy quan hệ với các quốc gia có chung thách thức, từ đó tạo thế đối trọng trong quan hệ với Trung Quốc.

Về mục tiêu ảnh hưởng, Nhật Bản coi Đông Nam Á là khu vực để có thể tăng cường ảnh hưởng của mình nhằm phục vụ cho ngoại giao nước lớn, đặc biệt là trong việc giành được sự ủng hộ để trở thành thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Bên cạnh đó, để giảm thiểu tác động từ những khó khăn trong quan hệ với các nước Đông Bắc Á, cũng như độc lập hơn với Mỹ, Nhật Bản cần tạo dựng môi trường ổn định có lợi cho Nhật Bản trong tương lai, vì vậy mở rộng tầm ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á là một trong những mục tiêu chiến lược của nước này. Rộng hơn, mục tiêu ảnh hưởng trong chính sách của Nhật Bản với khu vực còn liên quan đến việc phổ biến các giá trị về tự do, dân chủ, nhân quyền, tinh thần thượng tôn pháp luật.

Trong tương lai, chính sách của Nhật Bản đối với khu vực sẽ tiếp tục được tăng cường, hoặc ít nhất được duy trì ở mức độ như hiện nay. Quan trọng nhất, cách ứng xử của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á phụ thuộc rất lớn vào những điều chỉnh trong chính sách của Mỹ và Trung Quốc đối với khu vực. Dưới thời của Tổng thống Donald Trump, chính sách của Mỹ ưu tiên các vấn đề đối nội, nhằm giúp nước Mỹ “vĩ đại trở lại” và ưu tiên hơn cho các lợi ích vị kỷ quốc gia, cắt giảm cam kết với bên ngoài, dẫn đến nhiều nghi ngại về chính sách của Mỹ với khu vực. Hiện nay Mỹ ngày càng tỏ ra quyết liệt và cứng rắn với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông hơn các đời tổng thống khác của Mỹ. Đặc biệt là thông qua việc đạt được thỏa thuận với Mexico và Canada, trong đó có điều khoản các nước không thiết lập FTA song phương với nền kinh tế phi thị trường như Trung Quốc, nhiều ý kiến cho rằng Chính quyền Tổng thống Donald Trump thể hiện quyết tâm cô lập Trung bằng các thỏa thuận thương mại,…

Đối với Trung Quốc, các hành động hung hăng mà nước này đưa ra sẽ vẫn tiếp diễn và Trung Quốc vẫn sẽ là thách thức an ninh lớn mà Nhật Bản cần đối phó. Tuy nhiên, áp lực này có thể giảm trong thời gian tới, khi Trung Quốc phải tập trung đối phó với sự cứng rắn và quyết liệt của Mỹ. Bên cạnh đó, đối với tranh chấp quần đảo Senkaku, một giải pháp triệt để cho cả hai nước có lẽ vẫn sẽ chưa đạt được trong trung hạn. Các hành động trên thực địa của Trung Quốc lại rất khó đoán định. Do vậy, Nhật Bản vẫn cần quan hệ với các nước Đông Nam Á, tạo thể đối trọng với Trung Quốc. Ngoài ra, sự tranh giành ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực Đông Á cũng là một nhân tố mà Nhật Bản cần tính đến trong việc hoạch định chính sách đối ngoại trong tương lai.

Nhìn chung, ít nhất là trong trung hạn, cách tiếp cận của Nhật Bản với khu vực Đông Nam Á vẫn sẽ là tích cực, chủ động phát triển quan hệ thực chất. Mức độ can dự có thể được tăng cường, hoặc ít nhất cũng được duy trì như hiện nay. Từ yếu tố bên trong nước Nhật Bản đến các yếu tố bên ngoài là sự ủng hộ từ phía các nước khu vực đều hình thành những xung lực đẩy Nhật Bản xích lại gần các nước Đông Nam Á trong hiện tại và tương lai.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Nguyễn Đoan Trang (Ban Kinh tế thế giới)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202