Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Thực trạng tiếp cận giáo dục và dạy nghề của người dân tộc thiểu số

Cập nhật lúc: 03/01/2019 04:00:00 PM

Theo Điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015 của Tổng cục Thống kê (TCTK), tới ngày 01/7/2015, cả nước có gần 13,4 triệu người dân tộc thiểu số (DTTS), chiếm 14,6% tổng dân số. Người DTTS tập trung chủ yếu ở các địa bàn khó khăn(1) (vùng cao và miền núi) với các hạn chế về cơ sở hạ tầng, đời sống thấp, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản khó khăn và có tỷ lệ hộ nghèo khá cao. Năm 2017, DTTS chiếm 15% dân số, nhưng chiếm 47% tổng số người nghèo và 68% nghèo cùng cực toàn quốc. Kết quả đo lường nghèo đa chiều theo 5 chiều (giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống, tiếp cận thông tin) từ Điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2015 cho thấy tiếp cận giáo dục, nước sạch và thông tin có tỉ lệ thiếu hụt cao nhất.

Nhìn chung, tỷ lệ nhập học được cải thiện theo thời gian, khoảng cách giáo dục của nhóm DTTS và dân tộc đa số dần thu hẹp, nhưng việc tiếp cận giáo dục phổ thông của DTTS vẫn thấp hơn nhóm dân tộc Kinh-Hoa. Bảng 1 cho thấy, tỷ lệ nhập học chung và tỷ lệ nhập học đúng tuổi có sự cải thiện trong giai đoạn 2004-2016 ở tất cả các cấp học phổ thông và với DTTS và dân tộc Kinh-Hoa. Tỷ lệ nhập học chung(2) ở ba cấp học giảm nhẹ theo thời gian là một tín hiệu tích cực, cho thấy tỷ lệ nhập học đúng tuổi tăng. Năm 2004 mới có khoảng 80,2% trẻ em DTTS đi học tiểu học đúng tuổi, năm 2016 tăng lên 91,6%. Mức tăng 11,4 điểm phần trăm trẻ em DTTS đi học tiểu học đúng tuổi khá ấn tượng, so với mức tăng tương ứng 2,8 điểm phần trăm của nhóm dân tộc Kinh – Hoa. Điều này thể hiện sự tăng trưởng mạnh mẽ tỷ lệ học sinh DTTS nhập học tiểu học đúng tuổi giai đoạn 2004-2016 và cho thấy hiệu quả của Kế hoạch hành động quốc gia giai đoạn 2003-2015 và các chính sách giáo khác đã tạo cơ hội cho nhiều trẻ em, trong đó có trẻ em DTTS được đến trường.(3)Tỷ lệ học sinh DTTS đi học đúng tuổi bậc THCS, THPT cũng tăng ấn tượng hơn với mức 23,2 và 15,3 điểm phần trăm. Mức tăng tỷ lệ đi học đúng tuổi của nhóm dân tộc Kinh, Hoa không cao bằng DTTS, nhưng cấp học càng cao, mức tăng càng lớn.(4)

Tỷ lệ nhập học giảm với các cấp học càng cao, và thể hiện rõ hơn với nhóm THCS và THPT, đặc biệt rõ với học sinh DTTS. Lứa tuổi học THCS bắt đầu có thể lao động và học sinh DTTS khi bước vào tuổi lao động có nhiềukhả năng dừng học để tham gia lao động phụ giúp gia đình hoặc gia đình không đủ khả năng chu cấp cho việc học tập của các em khi các trợ cấp về giáo dục cũng giảm so với cấp tiểu học. Do đó, tỷ lệ người DTTS tham gia trung học cơ sở và trung học phổ thông thấp hơn hẳn bậc tiểu học. Tỷ lệ người dân tộc Kinh-Hoa tham gia cấp THPT cũng thấp hơn tỷ lệ tham gia hai cấp học trước đó, nhưng qua thời gian nhóm dân tộc đa số có sự tăng trưởng mạnh về tỷ lệ tham gia THPT, tăng từ 50,8% năm 2004 lên gần 70,0% năm 2016.

Bảng 1. Tỷ lệ nhập học chung và tỷ lệ nhập học đúng tuổi theo dân tộc (%)

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu dựa trên số liệu VHLSS nhiều năm

Sự chênh lệch trong tiếp cận giáo dục của nhóm DTTS so với nhóm đa số còn có thể được quan sát qua tỷ lệ người thiểu số từ 5 tuổi chưa từng đến trường cao hơn của người dân tộc đa số và tỷ lệ này chỉ giảm nhẹ qua thời gian. Năm 2002, có 30,6% DTTS chưa từng đến trường, năm 2016 là 29,4%; tỷ lệ tương ứng của dân tộc đa số là 13,4% và 12,9% (Bảng 2). Một nguyên nhân của tình trạng người DTTS chưa từng đến trường hoặc không hoàn thành bậc tiểu học còn cao là do hầu hết chương trình giáo dục được dạy bằng tiếng phổ thông (tiếng Kinh), trong khi tại thời điểm 1/8/2015 chỉ có khoảng 79,2% người DTTS biết đọc biết viết chữ phổ thông (Phùng, Nguyễn, Nguyễn, Nguyễn, & Tạ, 2017).

Bảng 2. Tỷ lệ người từ 5 tuổi chưa từng đến trường theo độ tuổi của nhóm thiểu số và đa số

 Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu dựa trên số liệu VHLSS nhiều năm

Chênh lệch trong tiếp cận giáo dục ảnh hưởng đến kết quả giáo dục. Bảng 3 cho thấy, năm 2002, có tới 61,6% người DTTS từ 5 tuổi không có bằng cấp, gần gấp đôi so với người đa số. Tỷ lệ người DTTS hoàn thành các bậc học phổ thông đều thấp hơn tỷ lệ tương ứng của dân tộc Kinh – Hoa. Nhờ các thành tựu xã hội hóa giáo dục, tỷ lệ người không bằng cấp giảm dần và có xu hướng đạt được bằng cấp cao hơn. Năm 2016, chỉ còn 31,8% DTTS không có bằng cấp, so với 20,5% của dân tộc đa số. Giai đoạn 2010-2016, tỷ lệ người thiểu số có bằng tiểu học cao hơn hẳn người đa số, nhưng tỷ lệ người thiểu số đạt các bằng cấp cao hơn vẫn thấp hơn người đa số. Tỷ lệ người DTTS có bằng cao đẳng trở lên năm 2016 là 3,3%, gấp đôi năm 2010 và gấp 5 lần năm 2002, một phần do kết quả của chính sách cử tuyển người DTTS vào các cơ sở trình độ đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.(*)

Bảng 3. Cơ cấu theo trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của dân số từ 5 tuổi trở của DTTS và đa số

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu dựa trên số liệu VHLSS nhiều năm

Về đào tạo nghề, 91-92% người dân tộc đa số và 95-96% người DTTS không có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật (Bảng 3). Tỷ lệ người DTTS được đào tạo và có chứng chỉ nghề có xu hướng tăng là kết quả của một loạt chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người DTTS. Năm 2002, có tổng số 1,7% người DTTS có chứng chỉ nghề, năm 2010 là 4,4% và năm 2016 là 3,6%. Tuy nhiên, tỷ lệ người DTTS có chứng chỉ nghề vẫn thấp hơn người dân tộc đa số, do các nguyên nhân sau: Thứ nhất, người DTTS còn thiếu thông tin và chưa được tư vấn về học nghề; Thứ hai, do trình độ của người DTTS còn chưa cao (thể hiện qua tỷ lệ người chưa từng đến trường hoặc người không có bằng cấp giáo dục) nên khả năng hấp thu các kiến thức nghề nghiệp hạn chế; Thứ ba, hệ thống cơ sở dạy nghề chưa được mở rộng nhiều tới các vùng khó khăn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa là những nơi cư trú chủ yếu của DTTS cũng làm giảm khả năng tiếp cận các cơ sở dạy nghề của người DTTS; Thứ tư, chính sách hỗ trợ dạy nghề cho người DTTS chưa thực sự hấp dẫn, mức hỗ trợ còn khá thấp và phần nhiều hộ DTTS là hộ nghèo nên không thể chi trả phần còn lại của kinh phí học tập, đi lại, ăn ở. 

------------------------

Tài liệu tham khảo

Phùng, Đ. T., Nguyễn, V. C., Nguyễn, C. T., Nguyễn, T. N., & Tạ, T. K. V. (2017). Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số. Hà Nội: Irish Aid, UNDP.

 

(*)Nghị định số 134/2006/NĐ-CP


 

(1) Dân tộc thiểu số sinh sống ở 30.945 địa bàn trên cả nước. Trong đó, tập trung nhiều nhất ở vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, với hơn 16,6 nghìn địa bàn có DTTS sinh sống và khoảng 6,7 triệu người. Tây Nguyên có hơn 4 nghìn địa bàn với khoảng 2 triệu người DTTS. Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 4,8 nghìn địa bàn và khoảng 1,9 triệu người. Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng tập trung số người DTTS ít nhất, tương ứng 3,9% và 1,9%.

(2)Tỷ lệ nhập học chung tại cấp học I bằng tỷ lệ phần trăm giữa số học sinh đang học cấp học đó so với tổng số người trong độ tuổi của cấp học này. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi tại cấp học I bằng tỷ lệ phần trăm giữa số học sinh trong độ tuổi cấp học I đang học cấp học đó so với tổng số người trong độ tuổi của cấp học này. Độ tuổi tương ứng của cấp tiểu học, THCS và THPT là 5-10, 11-14 và 15-17 tuổi.

(3) Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người giai đoạn 2003-2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Công văn số 872/CP-KG ngày 02/7/2003.

(4) Nếu tính theo quy mô dân số thì người Hoa có thể được xếp vào nhóm DTTS. Tuy nhiên, do người Hoa chuyên sinh sống ở vùng đồng bằng, thành thị có điều kiện thuận lợi và có trình độ phát triển như người Kinh nên trong nghiên cứu này, chúng tôi xếp dân tộc Hoa vào nhóm dân tộc đa số. Theo đó, dân tộc đa số gồm Kinh, Hoa; DTTS gồm 52 dân tộc còn lại.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: TS. Phạm Thị Thu Trang (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202