Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Chỉ số Vốn con người (Human Capital Index - HCI)

Cập nhật lúc: 28/12/2018 02:00:00 PM

Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 2018), vốn con người bao gồm kiến thức, kĩ năng và sức khỏe mà con người tích lũy được trong suốt cuộc đời, giúp con người nhận ra tiền năng của mình như là thành viên hữu ích cho xã hội. Cải thiện vốn con người góp phần chấm dứt nghèo đói và tạo ra xã hôi tốt đẹp hơn. Điều này đòi hỏi một sự đầu tư hợp lý cho con người thông qua dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, chất lượng giáo dục, kỹ năng và việc làm.

WB định nghĩa chỉ số đo lường vốn con người (HCI) của thế hệ tiếp theo là lượng vốn mà một đứa trẻ sinh ra ngày nay có thể mong đợi đạt được khi xem xét các rủi ro về sức khỏe và giáo dục hiện đang tồn tại tại quốc gia nơi đứa trẻ đó sống. HCI đi theo cả quá trình từ khi sinh ra đến khi trưởng thành của một đứa trẻ được sinh ra ở hiện tại. Ở những nước nghèo, có một rủi ro lớn là đứa trẻ không sống sót tới sinh nhật lần thứ năm. Hoặc ngay khi đến tuổi đi học, một rủi ro tiếp theo là đứa trẻ không được đến trường, chưa kể tới việc có thể hoàn thành toàn bộ chu kỳ 14 năm học từ mẫu giáo đến hết lớp 12. Thời gian mỗi đứa trẻ đến trường có thể không hoàn toàn dành cho việc học, hoặc không thu được đầy đủ lượng kiến thức như đúng kỳ vọng từng năm học đề ra, tùy thuộc vào chất lượng giáo viên và trường học nơi mà chúng trải nghiệm. Điều này được thể hiện bằng số năm học điều chỉnh trong hệ thống dữ liệu. Những ảnh hưởng lâu dài của việc sức khỏe và dinh dưỡng kém từ thời thơ ấu sẽ thể hiện rõ ràng khi con người đủ 18 tuổi. Điều đó làm hạn chế khả năng nhận thức và phát triển thể chất của mỗi người khi trưởng thành.

HCI minh họa một cách định lượng các giai đoạn chính trong quỹ đạo này và hậu quả của chúng đối với năng suất của thế hệ lao động tiếp theo, với ba thành phần chính: Sinh tồn, Trường học và Sức khỏe. Để các thành phần có thể kết hợp được để tạo nên HCI, trước tiên cần chuyển đổi chúng thành những tỷ lệ đóng góp cho năng suất kỳ vọng trong tương lai.

1. Sinh tồn

Thành phần này phản ánh một sự thật đáng tiếc rằng, không phải tất cả trẻ em sinh ra ngày nay sẽ sống sót cho đến khi quá trình tích lũy vốn con người thông qua giáo dục chính thức bắt đầu. Thành phần này được xác đinh bởi tỷ lệ trẻ em tử vong dưới 5 tuổi, với tỷ lệ trẻ sống đến 5 tuổi là phần bổ sung. Những đứa trẻ không sống sót từ thời thơ ấu thì sẽ hiển nhiên sẽ không thể trở thành một người lao động có năng suất. Do đó, năng suất kỳ vọng trong tương lai của một đứa trẻ sẽ bị ảnh hưởng bởi yếu tố tỷ lệ sống tới 5 tuổi.

            2. Trường học

Thành phần này của chỉ số kết hợp thông tin về số năm học dự kiến và chất lượng giáo dục.

  • Số năm học dự kiến là số năm học mà một đứa trẻ có thể mong đợi có thể hoàn thành ở tuổi 18. Giá trị tối đa có thể là 14 năm, tương đương với số năm học tối đa có thể đạt được tính tới khi 18 tuổi khi đứa trẻ mắt đầu được đi học mẫu giáo ở lúc 4 tuổi. Các kết quả của các tài liệu thực nghiệm lớn về đo lường lợi ích của giáo dục đối với mỗi cá nhân thống nhất một kết luận là khi tăng thêm một năm học thì thu nhập khi trưởng thành tăng khoảng 8%. Kết luận này có thể được sử dụng để thể hiện mối liên kết rằng sự chênh lệch trong số lượng năm học ảnh hưởng như thế nào tới năng suất lao động về sau. Ví dụ, so với điểm chuẩn mà tất cả trẻ em có đủ 14 năm học ở tuổi 18, một đứa trẻ chỉ có 9 năm học có thể mong đợi có năng suất thấp hơn 40% khi trưởng thành (khoảng cách 5 năm giáo dục, nhân với 8 phần. Trong dữ liệu, số năm học dự kiến tính ​​trong khoảng từ 4 đến gần 14 tuổi .
  • Chất lượng giáo dục phản ánh bằng điểm kiểm tra từ các chương trình kiểm tra thành tích học sinh quốc tế lớn, cụ thể là chương trình thử nghiệm Xu hướng trong Nghiên cứu Khoa học và Toán học Quốc tế (TIMSS) với phạm vi điểm từ khoảng 300 đến khoảng 600 trên khắp các quốc gia.

Điểm kiểm tra được sử dụng để chuyển đổi năm học dự kiến ​​thành năm học điều chỉnh. Số năm học được điều chỉnh trong học tập có được bằng cách nhân số năm học dự kiến ​​với tỷ lệ điểm kiểm tra là 625 (điểm chuẩn TIMSS ứng với thành tích cao). Ví dụ: nếu số năm học dự kiến ​​ở một quốc gia là 10 và bài kiểm tra trung bình điểm số là 400, số năm học điều chỉnh sẽ là 10 × (400/625) = 6,4 năm.

            3. Sức khỏe

Thành phần này sử dụng hai chỉ số là: Tỷ lệ tăng trưởng khỏe mạnh của trẻ em dưới 5 tuổi và Tỷ lệ sống sót của người trưởng thành. Việc giải thích mối liên hệ giữa các chỉ số này tới năng suất kỳ vọng của mỗi đứa trẻ trong tương lai dựa trên tài liệu thực nghiệm đo lường lợi nhuận kinh tế khi có sức khỏe tốt hơn ở cấp độ cá nhận. Tuy nhiên, một thách thức đặt ra là các tài liệu chưa có chỉ số thể hiện trực tiếp được mối liên hệ giữa các hợp phần nhỏ đối với năng suất kỳ vọng. Các tài liệu đã chọn chỉ số về chiều cao của người trưởng thành làm chỉ số trung gian để chỉ rõ mối liên hệ đó.Các tài liệu trên đã chỉ ra rằng khi chiều cao người trưởng thành tăng 1cm thì năng suất sẽ tăng 3,4%.

  • Tỷ lệ tăng trưởng khỏe mạnh ở trẻ em dưới 5 tuổi được đo bằng tỷ lệ thấp còi, nghĩa là bằng 1 trừ đi tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thấp hơn chiều cao bình thường so với tuổi. Thể thấp còi đóng vai trò là chỉ số cho môi trường sức khỏe trước khi sinh, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đại diện cho những rủi ro đối với sức khỏe mà trẻ em sinh ra ngày nay có thể gặp phải trong những năm đầu đời, với những hậu quả đáng kể ở tuổi trưởng thành. Theo các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm, nếu cải thiện sức khỏe giúp tỷ lệ thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm đi 10,2 điểm phần trăm thì năng suất sẽ tăng 3,5%.
  • Tỷ lệ sống của người trưởng thành được đo bằng tỷ lệ của những đứa trẻ 15 tuổi sống sót đến 60 tuổi. Tỷ lệ này như  đại diện cho một loạt các kết quả sức khỏe không tốt mà một đứa trẻ sinh ra hôm nay sẽ trải qua khi trưởng thành trong tương lai nếu như sinh dưỡng và y tế không đảm bảo. Các tài liệu đã đưa ra kết luận rằng nếu với mỗi 10% tăng tỷ lệ sống của người trưởng thành thì chiều cao của người trưởng thành tăng 1,9cm. Như vậy, khi sức khỏe cải thiện khiến tỷ lệ sống của người trưởng thành tăng 10 điểm phần trăm thì năng suất sẽ tăng khoảng 6,5% (1,9 x 3,4).

Trong HCI, tỷ lệ đóng góp của Sức khỏe được tính bằng giá trị trung bình của hai hợp phần nhỏ trên.

HCI tổng thể được xây dựng bằng cách tính tích các tỷ lệ đóng góp vào năng suất kỳ vọng của Sinh tồn, Trường học và Sức khỏe như sau:

HCI = Survival x School x Healthy (1)

Trong đó:

Các tham số:

f = 0,08 đo lường lợi nhuận khi tăng thêm một năm học.

gASR = 0,65 và gStunting = 0,35 đo lường sự cải thiện năng suất liên quan đến sự cải thiện sức khỏe, sử dụng tỷ lệ sống sót của người trưởng thành và thấp còi làm đại diện cho sức khỏe.

Điểm chuẩn của giáo dục chất lượng cao hoàn chỉnh tương ứng với 14 năm học và điểm kiểm tra hài hòa là 625. Điểm chuẩn về sức khỏe đầy đủ tương ứng với tỷ lệ sống sót của trẻ em và người lớn 100% và tỷ lệ thấp còi là 0%.

Các trọng số được chọn là giống nhau giữa các quốc gia, do đó sự khác biệt giữa các quốc gia trong HCI chỉ phản ánh sự khác biệt trong các yếu tố thành phần.

Ví dụ:

Bảng 1: Chỉ số Vốn con người của Việt Nam 2018

Nguồn: WB (2018), Human Capital Index Data

------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Case and Paxson (2008),  Stature and Status: Height, Ability, and Labor Market Outcomes

2. Case and Paxson (2010), Causes and consequences of early-life health.

3. IEA(2018), Trends in International Mathematics and Science Study

4. Montenegro and Patrinos (2014),  Recent cross-country estimates of the returns to schooling.

5. WB (2018), The Human Capital Project

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Lương Thị Hải Ngân (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202