Phân tích và Dự báo

Kinh tế Việt Nam năm 2018 nhìn từ phía cầu

Cập nhật lúc: 17/01/2019 03:00:00 PM

Tiếp đà tăng trưởng của năm 2017, kinh tế Việt Nam bước sang năm 2018 tiếp tục được cải thiện nhờ hàng loạt yếu tố hỗ trợ như giá hàng hoá thấp, lực đẩy từ các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và cầu bên ngoài cùng với những cải cách tích cực về thể chế, bên cạnh đó là sự nỗ lực và quyết tâm rất lớn từ phía chính phủ với các giải pháp thực thi hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng liên tục đạt mức cao: năm 2017 đạt 6,81%, năm 2018 ước đạt 7,08%. Đặc biệt năm 2018 được coi là năm thực sự “cất cánh” của cả giai đoạn 2016-2020. Mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội đạt 7,08% đã vượt mục tiêu kế hoạch đề ra, đạt mức cao nhất trong hơn 11 năm qua. Đây là tiền đề quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng và hướng tới đạt tới mục tiêu 6,5-7% cho cả giai đoạn 2016-2020.

Nhìn từ phía cầu, thương mại quốc tế đã đạt thành tích đáng kể, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung. Cán cân thương mại cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2015, thâm hụt thương mại là 3,76 tỷ USD nhưng từ năm 2016 đến nay, thặng dư thương mại đã xuất hiện và tăng nhanh. Năm 2016 cán cân thương mại hàng hoá thặng dư là 1,6 tỷ USD, năm 2017 con số này tăng lên mức 2,9 tỷ USD và năm 2018, thặng dư thương mại hàng hoá đạt mức kỷ lục - hơn 7,2 tỷ USD. Nguyên nhân chính là do Việt Nam đã được hưởng lợi từ hoạt động sản xuất của những tập đoàn công nghệ hàng đầu, đặc biệt là Samsung. Xuất khẩu hàng điện tử và các sản phẩm liên quan tăng nhanh trong những năm gần đây, qua đó đẩy doanh thu xuất khẩu tăng mạnh. Bên cạnh đó, xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam cũng gặp nhiều thuận lợi với các mặt hàng chủ chốt như gạo, thủy sản và hoa quả. Trong khi đó, sản xuất trong nước đang dần thay thế hàng hóa nhập khẩu.

Năm 2018, xuất khẩu đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, thấp hơn mức tăng của năm 2017 là 21,4% nhưng đây là mức tăng tương đối khá so với các năm trước đó. Xét về cơ cấu khu vực kinh tế, tỷ trọng đóng góp từ khu vực FDI khá lớn. Dễ dàng nhận thấy, kể từ năm 2014 đến nay, tỷ lệ hàng hoá xuất nhập khẩu từ khu vực FDI ngày càng tăng. Nếu như năm 2014, tỷ lệ này là 66,8%, thì năm 2017 đã tăng lên 72,7% và ước thực hiện năm 2018 là 71,7%. Như vậy, đóng góp của khu vực trong nước trong xuất nhập khẩu bị thu hẹp lại. Tính chung giai đoạn 2014-2018, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 29,2% và khu vực FDI chiếm tới 70,8%. Xét theo nhóm hàng hoá, đã có những bước dịch chuyển cơ cấu quan trọng trong những năm gần đây. Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tới 44% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa năm 2014 đã tăng lên còn 50,5% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa vào năm 2018 (trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện đạt 50 tỷ USD, tăng 10,5% và chiếm 20,4% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa), cao hơn so với mức xuất khẩu của hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp - 41,01% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa. Đây là những bước đầu quan trọng đối với cơ cấu lại mặt hàng xuất khẩu của nền kinh tế Việt Nam. Xét theo đối tác, thị trường Mỹ vẫn chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất trong những năm gần đây, ước tính năm 2018, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chiếm khoảng 19,41% tổng giá trị xuất khẩu, EU khoảng 17,37% và Trung Quốc chiếm khoảng 17,7%. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn duy trì xuất nhập khẩu sang các nước trong khu vực và Châu Á. Năm 2018 tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam trong khu vực ASEAN chiếm khoảng 10,09%, Hàn Quốc 7,48% và Nhật Bản 7,76%.

Nhìn từ phía nhập khẩu, nhập khẩu năm 2018 đạt 237,51 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2017, thấp hơn so với mức tăng trưởng 21,6% của năm trước. Tỷ lệ nhập khẩu trung bình giai đoạn 2014 - 2018 của khu vực kinh tế trong nước chiếm khoảng 41,1% và nhập khẩu của khu vực FDI chiếm khoảng 58,9%. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là tư liệu sản xuất. Ước tính năm 2018, nhóm hàng này chiếm 91,4% và nhóm hàng tiêu dùng chỉ chiếm 8,6%. Trong nhóm hàng tư liệu sản xuất, nhóm Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng chiếm 42,5% và nhóm nguyên, nhiên vật liệu chiếm khoảng 49,33%.  Xét theo đối tác, Trung Quốc vẫn giữ tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam, khoảng 27,7% tổng giá trị nhập khẩu.

GDP của Việt Nam năm 2018 đạt khoảng 241 tỷ USD. Như vậy, số liệu ước thực hiện về xuất khẩu và nhập khẩu năm 2018 có thể thấy được độ mở thương mại (1) của Việt Nam khoảng 203%. Với độ mở này, Việt Nam có độ mở thương mại đứng cao thứ 3 ở châu Á và thứ 8 trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn được đánh giá khá thấp về mức độ tự do hóa thương mại. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2016, Việt Nam đứng thứ 73 trong tổng số 136 quốc gia được đánh giá về chỉ số thúc đẩy thương mại, vị trí thấp hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực như Malaysia (27), Trung Quốc (61), Thái Lan (63), Indonesia (70). Thuế suất nhập khẩu còn cao, thủ tục hành chính phức tạp vẫn là hai trong số những rào cản thương mại lớn nhất của Việt Nam khi so sánh với các nước trong khu vực. Như vậy, độ mở thương mại của Việt Nam là kết quả của các yếu tố mang tính cấu trúc, phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Chính sách thương mại tự do chỉ là một trong những biến số gây ảnh hưởng đến độ mở của một nền kinh tế. Trong trường hợp của Việt Nam, độ mở thương mại cao hơn các quốc gia trong khu vực chỉ đơn thuần phản ánh tính chất gia công của hoạt động sản xuất trong nước chứ không có nghĩa chúng ta có nền kinh tế hội nhập và tự do hóa thương mại cao hơn. Độ mở thương mại có thể sẽ giảm xuống khi kinh tế Việt Nam phát triển lên được vị trí cao hơn trong chuỗi sản xuất toàn cầu, khu vực dịch vụ được mở rộng nhờ mức thu nhập bình quân đầu người cải thiện. Bên cạnh đó, các cú sốc thương mại nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, với cơ cấu các mặt hàng xuất nhập khẩu có hàm lượng gia công cao thì những cú sốc thương mại sẽ có tác động không lớn như một số quốc gia khác.

Năm 2018, tiêu dùng cuối cùng duy trì mức tăng trưởng khá, tăng 7,2% so với năm trước, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP. Sự tăng trưởng sức mua cũng được thể hiện rõ nét thông qua tăng trưởng của tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2018 ước đạt 4.396 nghìn tỷ đồng, tăng 9,4% (đã loại trừ yếu tố giá) so với năm trước, tiếp tục đà tăng trưởng khá vững chắc từ năm 2014 trở lại đây. Theo ngành hoạt động, đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng ổn định của tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ là doanh thu bán lẻ hàng hóa, chiếm tỷ trọng 75% trên tổng mức. Ước tăng trưởng doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2018 đạt 3.306 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4% so với 2017.

Sự tăng trưởng của tiêu dùng do nhiều yếu tố, đáng kể là yếu tố việc làm và thu nhập được cải thiện, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động giảm xuống, từ mức 1,67% năm 2017 xuống mức 1,46% năm 2018 trong khi đó, tiền lương bình quân của lao động làm công ăn lương có xu hướng tăng lên, từ mức 5,3 triệu/tháng/người năm 2017 lên 5,6 triệu/tháng/người năm 2018, việc làm và thu nhập được cải thiện là cơ sở gia tăng tiêu dùng, nhất là đối với lao động trong độ tuổi trẻ. Ngoài ra, kết quả từ chính sách ổn định vĩ mô của Chính phủ trong một thời gian dài có tác động tích cực đến tâm lý tiêu dùng của người dân, trong bối cảnh lãi suất được giữ ổn định ở mức thấp, người Việt cho thấy sự thay đổi rõ rét về xu hướng tiêu dùng khi tỷ lệ tiết kiệm giảm, người dân sử dụng tiền nhàn rỗi nhiều hơn vào các hoạt động vui chơi giải trí, du lịch. Ngoài ra, trong những năm gần đây, các kênh hỗ trợ cho tài chính tiêu dùng ngày càng được mở rộng, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của tín dụng tiêu dùng, quy mô tín dụng tiêu dùng có thể vượt mức 1.700 nghìn tỷ đồng tính đến hết năm 2018, duy trì mức tăng trưởng khoảng 50% so với năm 2017, theo đó đóng góp đến 19% vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ.

Về vốn đầu tư, năm 2018, Chính phủ nỗ lực thực hiện giải ngân vốn đầu tư phát triển toàn xã hội góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 1856,6 nghìn tỷ đồng (khoảng 33,5% GDP), tăng 11,2% so với năm 2017. Như vậy, mặc dù lượng vốn của năm 2018 tiếp tục tăng (bằng 1,5 lần so với năm 2014) song tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển đã chững lại (năm 2017 là 12,1%; năm 2016 là 8,6%; năm 2015 là 12% và năm 2014 là 11,9%). Vốn thực hiện khu vực Nhà nước ước tính đạt 619,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,3% tổng vốn và tăng 3,9% so với năm trước. Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước giải ngân khởi đầu khá chậm chạp và chỉ có chuyển biến tích cực từ quý III/2018. Vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2018 ước tính đạt 324,9 nghìn tỷ đồng, bằng 92,3% kế hoạch năm và tăng 12,5% so với năm trước. Nguyên nhân của việc giải ngân chậm vẫn đến từ quy trình và thủ tục đầu tư xây dựng còn phức tạp; công tác giải phóng mặt bằng và bố trí vốn đối ứng các dự án chưa đáp ứng yêu cầu; công tác phối hợp và chỉ đạo điều hành ở một số bộ, ngành, địa phương thiếu quyết liệt và còn nhiều bất cập; hồ sơ thanh toán vốn đầu tư còn rườm rà. Việc chậm cải thiện giải ngân vốn đầu tư phần nào ảnh hưởng bất lợi đến tăng trưởng GDP của năm 2018. Vốn thực hiện khu vực ngoài Nhà nước ước tính năm 2018 đạt 803,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% và tăng 18,5%, những cải cách của Chính phủ và các bộ, ngành thời gian qua đã khuyến khích khu vực ngoài Nhà nước phát triển. Nổi bật là những chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng hợp lý, hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí được sửa đổi bổ sung phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. Vốn thực hiện khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước tính năm 2018 đạt 434,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,4% và tăng 9,6%. Trong đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã không ngừng được mở rộng và phát triển, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện trình độ công nghệ, nâng cao khả năng xuất khẩu và hội nhập, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ước tính năm 2018, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017, nâng tỷ lệ giải ngân của năm 2018 lên mức hơn 53,8% (cao hơn so với năm 2017 là 48,77%, nhưng thấp hơn so với mức trung bình chung của 5 năm trở lại đây là 57,06%)./.

(1) Độ mở thương mại được tính bằng tỷ số giữa tổng giá tri xuất khẩu vfa nhập khẩu trên GDP. 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202