Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Xu hướng phát triển kinh tế Việt Nam năm 2019

Cập nhật lúc: 18/04/2019 10:18:00 AM

Tăng trưởng kinh tế trong những tháng còn lại của năm 2019 tiếp tục dựa vào khu vực sản xuất công nghiệp, chế biến và cơ chế thúc đẩy nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn có mức tăng trưởng khả quan, cùng với những chính sách hỗ trợ, thúc đẩy sản xuất từ phía Chính phủ nên khu vực này vẫn được coi là động lực của khu vực công nghiệp và kỳ vọng thúc đẩy tăng trưởng của toàn nền kinh tế trong những tháng tới [1]. Hơn nữa, động lực tăng trưởng tới đây của nền kinh tế vẫn phải trông vào tiêu dùng của dân cư và xã hội, và những động lực được tạo ra từ cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; qua đó, góp phần thu hút nguồn lực xã hội vào tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế. 

Nghiêng về tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế cao và ổn định kinh tế vĩ mô năm 2018 tạo điều kiện nâng cao thu nhập và mức sống của người dân. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế khả quan thúc đẩy tâm lý tiêu dùng do tin tưởng khả năng tạo thu nhập trong tương lai và qua đó, sẽ tạo điều kiện cho ngành dịch vụ tiếp mở rộng. Đặc biệt, xu thế mở rộng tiêu dùng đang lan tỏa ra toàn nền kinh tế, cũng như triển vọng tích cực của hoạt động bán lẻ, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch và dịch vụ ăn uống, lưu trú. 

Nghiêng về xuất nhập khẩu, xuất nhập khẩu cũng nhận được nhiều thuận lợi từ các nỗ lực cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh trong nước. Việc Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2019 và Hiệp định FTA Việt Nam – EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực vào năm 2019 đã và đang tạo ra sức hút mới cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, giúp các doanh nghiệp có thêm năng lực sản xuất mới.

Ngoài ra, trong bối cảnh căng thẳng Mỹ - Trung diễn ra gay gắt, việc tận dụng tốt cơ hội để xuất khẩu nhóm hàng vốn là thế mạnh của Việt Nam như da giày, dệt may, sản phẩm thuỷ sản sẽ là hướng đi hợp lý trong bối cảnh thương mại hiện nay, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. 

Nghiêng về đầu tư, vốn đầu tư phát triển năm 2019 đạt kết quả thuận lợi khi Chính phủ tiếp tục thúc đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là các nguồn vốn NSNN, trái phiếu Chính phủ, ODA, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội được cải thiện hơn so với năm 2018. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được hưởng lợi khi có nhiều yếu tố tích cực về triển vọng kinh tế cũng như cơ hội trong quá trình hội nhập quốc tếtrong năm 2019. Các hiệp định thương mại sẽ đem lại cơ hội cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, không chỉ ở các khoản đầu tư mới mà cả việc mở rộng các dự án sẵn có.

Tuy nhiên, những tháng còn lại của năm 2019, nền kinh tế còn phải đối mặt với những thách thức:

(i) Một số ngành vốn tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế như: điện thoại, điện tử,… không còn duy trì được tốc độ tăng trưởng ấn tượng như giai đoạn trước, đi kèm với sự giảm tốc của ngành khai khoáng. Cụ thể, động lực tăng trưởng từ phía doanh nghiệp Samsung còn là một ẩn số trước những lo ngại về mức giảm quy mô sản xuất của doanh nghiệp này so với cùng kỳ [2]. Thách thức cạnh tranh mà Samsung gặp phải trên thị trường toàn cầu có thể khiến doanh nghiệp sụt giảm tăng trưởng. Điều này sẽ tạo rủi ro cho nền kinh tế đang phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp FDI như Việt Nam.

(ii) Xuất khẩu nông sản được dự báo sẽ gặp còn đối mặt với nhiều thách thức khiến khu vực nông, lâm thủy sản khó có thể đạt mức tăng trưởng cao như cùng kỳ do: (1) ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 dự báo giảm và các nước trên thế giới đều quay lại tập trung đầu tư cho phát triển nông nghiệp; (2) Các mặt hàng nông sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu, trong khi đó, các nước nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

(iii) Sức ép lạm phát cao do tác động của nhiều yếu tố, nhất là biến động tỷ giá, lãi suất, xu hướng tăng giá dầu thô trên thị trường quốc tế và yêu cầu thực hiện lộ trình giá thị trường đối với điện, dịch vụ giáo dục, y tế. Việc điều chỉnh giá bán điện (tăng 8,63%) được thực hiện từ cuối Quý I sẽ có tác động tiêu cực đến sản xuất và tiêu dùng; qua đó tác động bất lợi đến tăng trưởng từ Quý II. Nếu cộng hưởng việc điều chỉnh giá điện với điều chỉnh giá xăng dầu gần đây thì tác động suy giảm tăng trưởng có thể lớn hơn so với dự báo (dự kiến làm giảm GDP khoảng 0,6-0,8%).
(iv) Giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hóa DNNN, thoái vốn ở nhiều bộ ngành, địa phương chậm.

(v) Lĩnh vực sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều rào cản. Sự gắn kết với khu vực FDI và năng lực, hiệu quả hoạt động của khu vực DN trong nước, nhất là DN nhỏ và vừa còn hạn chế.

Trên cơ sở phân tích xu hướng của tình hình kinh tế - xã hội những tháng còn lại của năm 2019, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia dự báo kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2019 theo bảng như sau:

Kết quả dự báo một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2019:

CHỈ TIÊU

ĐƠN VỊ

NĂM 2019

CẢ NĂM 2019

QI

QII

QIII

QIV

I. Tăng trưởng kinh tế

- Chung

%

6,79

6,83

6,86

6,88

6,86

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

%

2,68

2,86

3,11

3,34

3,02

- Công nghiệp – Xây dựng

%

8,63

8,87

8,91

8,31

8,61

- Dịch vụ

%

6,5

6,89

6,97

7,01

6,84

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phầm

%

6,12

6,21

6,43

6,41

6,31

II. Chỉ số giá tiêu dùng

- So với tháng 12

%

100,69

102,24

103,19

103,84

103,84

- Bình quân so với cùng kỳ năm trước

%

102,63

103,12

104,07

104,82

103,71

III. Xuất nhập khẩu

- Tổng kim ngạch xuất khẩu

Tỷ USD

58,51

65,26

70,82

75,45

270,04

- Tổng kim ngạch nhập khẩu

Tỷ USD

57,98

66,14

71,23

76,28

271,63

- Xuất khẩu ròng (XK-NK)

Tỷ USD

1,53

-0,88

-0,41

-1,83

-1,59

IV. Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Vốn thực hiện

Tỷ USD

4,12

5,27

5,37

5,58

20,34

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế- xã hội quốc gia, T3/2019.

Chú thích:

[1]: Một số dự án sẽ hoàn thành năm 2018 và sẽ đi vào hoạt động hết công suất trong năm nay như Nhiệt điện Duyên Hải 3, Nhiệt điện Thái Bình và Nhiệt điện Vĩnh Tân với tổng công suất đạt 3.645 MW/năm; Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn; Lò luyện cốc gang thép Formosa 2; Nhà máy Xử lý khí hóa lỏng Cà Mau; Dự án tổ hợp Samsung Display Việt Nam; Nhà máy LG Innoteck; Tổ hợp nhà máy VinFast; Nhà máy sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất.

[2]: Trên thực tế, đà suy giảm kinh doanh của Samsung bắt đầu từ cuối năm 2017 và xuyên suốt cả năm 2018. Báo cáo từ hai hãng nghiên cứu thị trường IDC và Strategy Analytics đều chỉ ra doanh số smartphone Samsung giảm khoảng 13% trong quý 3/2018, sau khi giảm 10% quý 2, 2% quý 1 và 4% quý 4/2017. Với kỳ vọng đưa ra dòng điện thoại S10, số lượng điện thoại sản xuất và xuất khẩu của Samsung sẽ tăng mạnh trong các tháng tới. Một số dự báo cho thấy tăng trưởng điện thoại Galaxy S10 sản xuất chủ yếu ở Việt Nam (70%) sẽ có sự tăng trưởng cao hơn khoảng 10% so với lượng tiêu thụ S9 năm 2018.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202