Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế quý I năm 2019

Cập nhật lúc: 19/04/2019 09:39:00 AM

Trong quý I/2019, tăng trưởng kinh tếtiếp tục được cải thiện nhưng chậm hơn so với cùng kỳ năm 2018.Ước tính quý I/2019, kinh tế đạt mức tăng trưởng 6,79%, thấp hơn nhiều so với mức 7,41% của cùng kỳ năm 2018. Tuy nhiên, so với cùng kỳ giai đoạn 10 năm trở lại đây, con số 6,79% vẫn là mức tăng trưởng cao, chỉ sau mức tăng của quý I/2018. Điều này cho phép nền kinh tế có thể có kỳ vọng lạc quan về mục tiêu 6,8% mà Chính phủ đặt ra trong cả năm 2019.

Nguyên nhân tăng trưởng quý I/2019 chậm lại là do những động lực tăng trưởng từ cả phía cung và phía cầu đã có phần giảm sút so với cùng kỳ. Về phía cung, khu vực công nghiệp không còn duy trì được mức tăng trưởng bứt phá như cùng kỳ năm 2018 bởi sự sụt giảm quy mô và sản lượng sản xuất của doanh nghiệp lớn là Samsung trong quý đầu năm 2019 [1] (kim ngạch xuất khẩu của Samsung thường chiếm khoảng 20-25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước), khiến ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng chậm lại [2]. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,63%, thấp hơn mức tăng 9,75% của cùng kỳ 2018, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,35% (cùng kỳ 2018 là 13,56%). Bên cạnh đó, khu vực nông, lâm thủy sản cũng tăng trưởng chậm hơn so với cùng kỳ, đạt 2,68% (cùng kỳ tăng 4,05%) do những thách thức trong ngành chăn nuôi, và những khó khăn trong xuất khẩu nông sản.

Cụ thể tình hình hoạt động sản xuất và những đóng góp về phía cung đối với tăng trưởng của nền kinh tế như sau:

a. Khu vực nông, lâm, thủy sản giảm tốc so với cùng kỳ 

Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực này trong quý I/2019 ước đạt 2,68%. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 3,97% của quý I/2018, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,2%, do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 5,1%, đạt mức tăng trưởng cao nhất của quý I trong 9 năm trở lại đây [3], đóng góp 0,14 điểm phần trăm. Nguyên nhân sự giảm sút của khối nông, lâm, thủy sản trong những tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ chủ yếu do những khó khăn trong ngành chăn nuôi và xuất khẩu nông sản:

(1) Chăn nuôi lợn giảm sút do dịch bệnh:Tính nửa đầu tháng 3/2019 đã có 7 tỉnh thành phía Bắc ghi nhận có dịch tả Châu Phi, trong số đó có Hà Nam là thủ phủ chăn nuôi lợn của khu vực phía Bắc. Giá trị của lợn hiện nay đang chiếm 52% ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, dịch tả lợn Châu Phi đã làm giảm 0,03 điểm phần trăm của tăng trưởng trong quý I/2019 [4].

(2) Thị trường đầu ra cho nông sản gặp nhiều khó khăn: Các mặt hàng nông sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu. Trong khi đó, các nước nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, tính chung cho quý I/2019, kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản chủ lực giảm mạnh: hạt tiêu giảm 15%, gạo giảm 24%, hạt điều giảm 17%, cà phê giảm 24%, rau quả giảm 8,6%.

b. Khu vực công nghiệp xây dựng giảm tốc so với cùng kỳ do ngành côngnghiệp chế biến chế tạo tăng trưởng chậm lại, và ngành khai khoáng tiếp tục thu hẹp quy mô. 

Khu vực này ước tính tăng trưởng 8,63% trong quý I/2019, trong khi con số tăng trưởng của cùng kỳ 2018 là 9,76%. Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 8,95% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,14 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý I/2019 ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 12,7% của cùng kỳ năm 2018 nhưng vẫn cao hơn mức tăng 7,4% và 4,8% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017.

Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế trong quý I/2019 vấn tiếp tục là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 12,35%, tuy thấp hơn mức tăng 14,3% của quý I/2018 nhưng cao hơn mức tăng quý I các năm 2012-2017 [5], đóng góp lớn vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm với 2,72 điểm phần trăm. Chỉ số IIP của ngành này ước tính đạt 11,1%, đóng góp 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung, tuy nhiên tốc độ tăng này thấp hơn khá nhiều so với mức tăng 15,7% của cùng kỳ năm 2018.

Nguyên nhân khiến công nghiệp chế biến chế tạo giảm phần lớn xuất phát từ sự giảm sút hoạt động sản xuất lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính vàquang học.Tăng trưởng sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học trong quý I/2019 chỉ đạt 2,9% trong khi cùng kỳ năm trước tăng 29,3%, trong đó điện thoại di động chỉ tăng nhẹ ở mức 2,1%. Xét theo tỉnh thành, IIP của Bắc Ninh cũng bị sụt giảm 10,5% so với cùng kỳ do sản xuất sản phẩm linh kiện điện thoại giảm mạnh.

Ngành dệt may và lọc hóa dầu đang dần trở thành điểm sáng tăng trưởng của khu vực công nghiệp trong quý I/2019, nhưng vẫn không bù đắp sự giảm sút của ngành điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học. 

Tính chung trong 3 tháng đầu năm, sản xuất trang phục, ghi nhận tăng trưởng sản xuất công nghiệp đạt 10,3% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2018 là 8,8%). Kim ngạch xuất khẩu dệt may cũng tăng 13,3% trong quý I/2019. 

Ngành sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ và tinh chế tăng trưởng sản xuất 96,1%, khí hóa lỏng (LPG) tăng 37,8%nhờ nhà máy lọc dầu Nghi Sơn đi vào hoạt động từ cuối năm 2018. Điều này cũng giúp cho chỉ số sản xuất công nghiệp của Thanh Hóa tăng trưởng mạnh, đạt 51,2%.

Ngành công nghiệp khai khoáng tiếp tục thu hẹp quy mô. Ngành khai khoáng quý I năm nay tăng trưởng âm (giảm 2,2%), làm giảm 0,15 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế do sản lượng dầu thô khai thác giảm 10,3% và khí đốt tự nhiên giảm 2,4%. Tính lũy kế 3 tháng đầu năm 2019, chỉ số IIP của ngành này cũng giảm giảm 2,1% (chủ yếu do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 6,2%).
Ngành xây dựng 3 tháng đầu năm 2019 duy trì mức tăng trưởng khá với 6,68%, đóng góp 0,39 điểm phần trăm.

Chỉ số PMI cũng cho thấy dấu hiệu cải thiện chậm của khối sản xuất. PMI tháng 3 tăng nhẹ từ mức 51,2 điểm của tháng 2 lên 51,9 điểm, Tuy nhiên, mức tăng của tháng 3 cũng cho phép có kỳ vọng lạc quan về tăng trưởng của khối này trong những tháng tiếp theo. Số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng tháng thứ bốn mươi liên tiếp. Trong tháng 3, số lượng khách hàng và số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu tăng với tốc độ tăng tổng số lượng đơn đặt hàng mới là cao nhất trong ba tháng. Việc này cho phép các công ty giảm lượng công việc tồn đọng và tăng hàng tồn kho thành phẩm.

c. Khu vực dịch vụ tăng trưởng tiếp tục tăng trưởng ổn định.

Tăng trưởng khu vực dịch vụ quý I/2019 ước tính ở mức 6,5% (giảm so với mức tăng 6,75% của cùng kỳ năm 2018), đóng góp 43,9%. Sự tăng trưởng khá của khu vực này phần lớn [6] do ngành bán buôn, bán lẻ - là ngành có tỷ trọng lớn nhất trong lĩnh vực dịch vụ tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng cao. Trong quý I, bán buôn và bán lẻ tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung với 0,95 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,22%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,71%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,75%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm.

Trong khi đó, dịch vụ du lịch có phần giảm sút so với cùng kỳ. Mặc dù tháng 2/2019 đã đón lượng khách quốc tế lớn  do đang vào mùa lễ hội đầu năm. Tuy nhiên, trong tháng ba, lượng khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 1.410,2 nghìn lượt người, giảm 11,2% so với tháng trước và tăng 5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ 2018 đặt 33,6). Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 4.500,1 nghìn lượt người, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, tương đối thấp so với mức tăng30,9% của 3 tháng cùng kỳ 2018.
 

 

Chú thích:

[1] Theo Samsung Electronics, kết quả kinh doanh trong quý I/2019 yếu hơn dự kiến do mặt hàng chip nhớ và màn hình giảm giá. Trong điều kiện kinh doanh kém thuận lợi, lợi nhuận trong 3 tháng đầu năm 2019 của hãng điện tử này sẽ chỉ ở mức 7,36 tỷ USD, giảm khoảng 47% so với cùng kỳ năm ngoái.

[2] Trong quý I/2019, xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt 12,1 tỷ USD, chiếm 20,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu nhưng giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước đạt 12,3 tỷ USD).

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản quý I của một số năm: Năm 2011 tăng 2,87%; năm 2012 tăng 4,06%; năm 2013 tăng 2,28%; năm 2014 tăng 4,72%; năm 2015 tăng 3,38%; năm 2016 tăng 1,90%; năm 2017 tăng 3,76%; năm 2018 tăng 4,96%; năm 2019 tăng 5,1%.

[4] Theo Tổng cục Thống kê cung cấp tại cuộc họp báo kinh tế xã hội quý I/2019.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành chế biến, chế tạo quý I của một số năm: Năm 2012 tăng 8,74%; năm 2013 tăng 4,38%; năm 2014 tăng 5,97%; năm 2015 tăng 9,70%; năm 2016 tăng 8,94%; năm 2017 tăng 8,60%; năm 2018 tăng 14,30%; năm 2019 tăng 12,35%.

[6] Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng Hai ước tính đạt 1.588,2 nghìn lượt người, tăng 5,8% so với tháng trước.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202