Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế và ổn định vĩ mô trong bốn tháng đầu năm 2019

Cập nhật lúc: 15/05/2019 02:19:15 PM

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế.

Trong 4 tháng đầu năm 2019, các ngành nông, lâm nghiệp thủy sản duy trì mức tăng trưởng ổn định. Trong khi đó, hoạt động của ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ diễn ra sôi động, đạt mức tăng trưởng tốt. Cụ thể:

Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ổn định. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 4/2019 nhìn chung ổn định. Trong tháng, các địa phương tập trung vào chăm sóc cây trồng vụ đông xuân ở phía Bắc, thu hoạch lúa, hoa màu vụ đông xuân và gieo trồng lúa hè thu ở phía Nam. Tình hình dịch tả lợn châu Phi bước đầu hạ nhiệt, tuy vậy giá thịt lợn vẫn giảm so với tháng trước. Ước tính tháng Tư, đàn lợn cả nước giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước; đàn trâu giảm 2,9%; đàn bò tăng 3,1%; đàn gia cầm tăng 6,8%.

Diện tích rừng trồng tập trung của cả nước trong tháng 4 ước tính đạt 27,1 nghìn ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 6,8 triệu cây, giảm 12,3%. Tính chung 4 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 59 nghìn ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 22,5 triệu cây, giảm 3,7%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.942 nghìn m3, tăng 4,3%. Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng tiếp tục được tăng cường. Trong tháng Tư, cả nước có 90,8 ha rừng bị thiệt hại, giảm 44,4% so với cùng kỳ năm trước

Trong tháng 4 và tính chung 4 tháng đầu năm, ngành thủy sản duy trì mức tăng khá về sản lượng nhưng nuôi cá tra trong tháng không thuận lợi do sản lượng cá tra xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Trung Quốc giảm, các doanh nghiệp giảm giá thu mua cá nguyên liệu. Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 2.156,5 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 994,6 nghìn tấn, tăng 5,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1.161,9 nghìn tấn, tăng 4,9% (sản lượng khai thác biển đạt 1.111,6 nghìn tấn, tăng 5,2%)

Khu vực sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng tốt nhờ động lực từ ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Bước sang tháng 4/2019, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2019 ước tính tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,8%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, IIP ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,7% của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 7,4% và 6,6% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,9% (cùng kỳ năm trước tăng 12,9%), đóng góp 8,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng bằng cùng kỳ năm trước (khai thác than tăng 13%, khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 4,1%).

Chỉ số PMI[1] cho thấy tín hiệu rất tích cực của khối sản xuất. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) sản xuất của Việt Nam tăng từ 51,9 điểm trong tháng 3 lên 52,5 điểm trong tháng 4,cao nhất 4 tháng,theo số liệu của Nikkei. Điều này cho phép có dự báo khả quan về tăng trưởng của khu vực sản xuất trong những tháng tiếp theo.

Hoạt động dịch vụ diễn ra sôi động, bước sang tháng 4/2019 các hoạt động bán buôn, bán lẻ; dịch vụ lưu trú, ăn uống sôi động do người dân gia tăng mua sắm và xu hướng đi du lịch. Các nhóm hàng có mức tiêu thụ tăng mặc phải kể đến là: Đồ uống và thuốc; hàng ăn và dịch vụ ăn uống; thực phẩm; may mặc, mũ nón. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2019 ước tính đạt 400 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.583,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,9%).

 

Nền kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định

Lạm phát trong xu hướng tăng nhẹ: Bước sang tháng 4, việc giá xăng dầu được điều chỉnh tăng 2 lần[2] cộng hưởng với nhu cầu hàng hóa, dịch vụ (như quần áo, giao thông vận tải…) tăng do yếu tố mùa vụ[3] đã gây áp lực lên mặt bằng giá hàng hoá nói chung. Tuy nhiên do nguồn cung hàng hoá, dịch vụ trên thị ổn định, cùng với việc tăng cường công tác quản lý giá, điều đó sẽ giúp cho giá cả thị trường không xảy ra những biến động lớn. Chỉ số CPI tháng 4 tăng 0, 31% so với tháng trước, và tăng 1% so với tháng 12 năm trước.

Thị trường tài chính – tiền tệ không có nhiều biến động

Tín dụng được mở rộng. Từ cuối quý I/2019, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu NHNN chỉ đạo mở rộng tín dụng cho nền kinh tế bắt đầu ngay trong tháng 3, nhất là đối với các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời cân đối với các chỉ tiêu vĩ mô khác, đặc biệt là lạm phát. Vì vậy, trong tháng 4, hoạt động cho vay đã được thúc đẩy mạnh hơn. Tính đến ngày 19/4/2019, dự nợ tín dụng của nền kinh tế ước tăng 3,23% so với cuối năm 2018 - tăng 1,5 điểm % so với tháng 3/2019, song vẫn thấp hơn mức tăng 4,7% của cùng kỳ năm 2018 - cho thấy khả năng giữ mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức 14% trong năm 2019 là hoàn toàn có thể đạt được. Cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh được ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.

Lãi suất khá ổn định, mặc dù một số ngân hàng thương mại có động thái tăng lãi suất kỳ trung hạn và dài hạn nhằm cơ cấu lại nguồn vốn huy động theo yêu cầu của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, song tính riêng trong tháng 4/2019, mặt bằng lãi suất vẫn khá ổn định. Hiện mặt bằng lãi suất huy động đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,5%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,5%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,6%-7,3%/năm. Lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến khoảng 6%-9%/năm đối với ngắn hạn và 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Tỷ giá có xu hướng tăng nhẹ. Trong tháng 4/2019, tỷ giá trung tâm có xu hướng tăng nhẹ so với các tháng trước. Tính đến ngày 29/4/2019, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.028 VND/1USD. Trên thị trường tự do, với các yếu tố hỗ trợ như: sự suy yếu của đồng USD trên thị trường thế giới cùng với việc Fed phát đi tín hiệu ngừng tăng lãi suất từ cuối tháng 1/2019, trong khi nguồn cung USD có tính mùa vụ khá dồi dào, dữ trữ ngoại hối tiếp tục gia tăng,… đã khiến cho tỷ giá USD/VND giao dịch tự do khá ổn định trong tháng qua. Tại thời điểm ngày 29/4/2019, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do duy trì ở mức khoảng 23.280, tương đương với mức giao dịch trong tháng 3/2019.

Trong những tháng tới, với sự chuyển hướng trong chính sách tiền tệ của Mỹ (từ thắt chặt quyết liệt sang xem xét khả năng ngừng tăng lãi suất trong năm 2019) sẽ khiến đồng USD khó tăng giá mạnh trong quý II/2019. Trong khi đó, hầu hết đồng tiền của các nước mới nổi tại châu Á đều có xu hướng hồi phục trở lại so với USD, trong đó mạnh nhất là Rupiah của Indonesia (2,7%), tiếp đến là CNY Trung Quốc (2,5%), Bath của Thái Lan (2,3%) (tính đến cuối tháng 2/2019). Ở trong nước, kinh tế Việt Nam dự kiến tiếp tục đà tăng trưởng với nền tảng vĩ mô ổn định, quan hệ cung - cầu ngoại tệ ở trạng thái tích cực như quý I/2019, dự trữ ngoại hối có xu hướng tăng dần là các điều kiện đảm bảo cho NHNN có thể can thiệp và ổn định thị trường. Theo đó, dự báo tỷ giá sẽ duy trì quanh mức 23.200đ/USD.

Thu ngân sách được cải thiện, chi ngân sách ở mức thấp: Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước thực hiện lũy kế 4 tháng đầu năm 2019 ước đạt 421 nghìn tỷ đồng, bằng 29,8% dự toán cả năm, tăng 14,84% so với cùng kỳ năm 2018 và đây là mức tăng khá cao so với những năm trước đó. Trong đó, lũy kế 4 tháng đầu năm 2019, thu nội địa ước đạt 337,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 28,7% dự toán năm 2019, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2018; thu dầu thô ước đạt 15,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 34,4% dự toán cả năm, giảm (-)3,66% so với cùng kỳ năm 2018; và thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 4 tháng đầu năm ước đạt 67,7 nghìn tỷ đồng, bằng 35,8% dự toán cả năm, cao hơn so với cùng kỳ năm 2018 (52 nghìn tỷ đồng).

Tính đến 15/04/2019, chi ngân sách nhà nước ước đạt 376,4 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 23% dự toán cả năm, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018 (23,2% dự toán năm). Trong đó, chi đầu tư phát triển ước đạt 15,2% (cùng kỳ năm 2018 đạt 13,7% dự toán năm) dự toán năm, chi thường xuyên ước đạt 27,5% (cùng kỳ năm 2018 đạt 27,6% dự toán năm) dự toán năm và chi trả nợ lãi đạt khoảng 33,1% dự toán năm (cùng kỳ năm 2018 đạt 34% dự toán năm).

 


[1] Nguồn: Nikkei

[2] Ngày 2/4/2019, giá xăng E5 RON 92 đã tăng lên từ mức 17.210 đồng lên 18.580 đồng và tiếp tục tăng lần 2 (ngày 17/4/2019) lên mức 19.700 đồng. Tương ứng, giá xăng E5 RON 95 tăng từ mức 18.540 đồng lên 20.030 đồng và tiếp tục tăng lên 21.230 đồng.

[3] Chuyển từ mùa xuân sang mùa hè ở miền Bắc, nghỉ lễ dài ngày giỗ tổ 10/3 và dịp nghỉ lễ 30/4

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202