Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Một số đặc điểm của quá trình già hoá dân số tại Việt Nam

Cập nhật lúc: 27/05/2019 03:04:00 PM

GHDS là xu hướng tất yếu khi kinh tế-xã hội nói chung ở mỗi quốc gia ngày một phát triển, đời sống vật chất nói riêng của người dân quốc gia đó cũng ngày được nâng cao. Việt Nam đã và đang duy trì được những thành tựu này theo hướng ngày càng sâu rộng hơn. Tuy nhiên, già hoá dân số là đặc trưng của những nước có thu nhập cao, trong khi đó Việt Nam là nước có mức thu nhập trung bình nhưng đã chính thức bước vào thời kỳ già hoá dân số từ năm 2011.

1. Khái niệm về già hoá dân số (GHDS)

Khái niệm người cao tuổi được hiểu ít nhiều khác nhau ở các quốc gia, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của từng nước. Ở các nước phát triển, độ tuổi được coi là NCT có xu hướng cao hơn ở các nước đang phát triển. Cụ thể, tại hầu hết các nước châu Âu, NCT là những người từ 65 tuổi trở lên, trong khi ở một số nước châu Phi thì độ tuổi của NCT lại là từ 50-55. 

Đối với các tổ chức quốc tế, Quỹ dân số Liên Hợp quốc (UNPFA), trong Báo cáo tóm tắt “Già hóa trong thế kỉ 21: Thành tựu và thách thức” công bố năm 2012 hàm ý NCT là những người có độ tuổi từ 60 trở lên [1]. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trong Công ước số 128 năm 1967 về trợ cấp khuyết tật, trợ cấp tuổi già và trợ cấp người sống sót xác định NCT là người 65 tuổi trở lên [2]. Cơ quan Thống kê của Liên minh châu Âu (Eurostat) cũng coi NCT là những người từ 65 tuổi trở lên [3]. 

Tại Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 được Quốc hội khóa XII, kì họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009, NCT được quy định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên, đối với cả nam và nữ [4].  “Già hóa dân số” hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già” là khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên. Giai đoạn “dân số già” còn gọi là giai đoạn “dân số đã già” là khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 14% hoặc khi số người trên 60 tuổi chiếm từ 20% tổng dân số trở lên. 

2. Một số đặc điểm chủ yếu của quá trình GHDS tại Việt Nam

2.1. NCT tăng nhanh cả về số lượng và tỷ trọng

NCT của nước ta tăng nhanh cả về số lượng người và tỷ lệ trong tổng dân số. Tốc độ tăng NCT ở nước ta rất nhanh và nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng dân số. Trong giai đoạn 2011-2018, dân số tăng thêm 7,4% thì số NCT tăng tới 21,3% - cao gấp gần 3 lần so với tốc độ tăng dân số.
Năm 2011 là năm nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ GHDS, số NCT là khoảng 8.786.000 người thì đến năm 2018, số NCT đã là 10.659.000 người, tăng khoảng 2.000.000 người, trung bình mỗi năm nước ta có thêm khoảng 250.000 NCT. Kết quả là tỷ lệ NCT trong tổng dân số liên tục tăng lên, từ khoảng 10% trong năm 2011 lên gần 11,3% trong năm 2018. 

2.2. Nhóm  NCT tăng nhanh nhất so với các nhóm tuổi khác cả về số lượng và tỷ trọng

Trong giai đoạn 2011-2018, cơ cấu dân số theo nhóm tuổi chuyển dịch theo hướng tỷ lệ nhóm trẻ em (0-14 tuổi) khi mới bắt đầu bước vào thời kỳ già hoá giảm nhẹ, từ năm 2016 trở lại đây hầu như không thay đổi; tỷ lệ nhóm trong độ tuổi lao động (14-59 tuổi) liên tục giảm, trong khi đó tỷ lệ nhóm NCT lại liên tục tăng lên. 

Bảng 1. Dân số Việt Nam theo nhóm tuổi giai đoạn 2014-2018

 

2014

2015

2016

2017

2018

NCT (nghìn người)

9186

9483

9829

10225

10659

Tỷ lệ trong tổng DS (%)

10,15

10,36

10,63

10,94

11,29

Trẻ em (0-14 tuổi)

21233

21433

21653

21884

22116

Tỷ lệ trong tổng DS (%)

23,46

23,43

23,42

23,42

23,42

Người trong độ tuổi lao động (15-59)

60073

60551

60960

61314

61629

Tỷ lệ trong tổng DS (%)

66,38

66,2

65,94

65,61

65,28

Dân số (nghìn người)

90493

91465

92442

93422

94404

Nguồn:Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê.

2.3. Tuổi thọ NCT tăng lên nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh thấp

Mặc dù có tuổi thọ trung bình khá cao nhưng tuổi thọ khỏe mạnh của người cao tuổi ở nước ta (giai đoạn sống tích cực) lại khá thấp (chỉ khoảng 64 tuổi). Đặc biệt, có 67,2% người cao tuổi có tình trạng sức khỏe yếu và rất yếu, nhiều người mắc bệnh nan y… Khoảng 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền, trung bình 1 người cao tuổi Việt Nam mắc 3 bệnh. Gánh nặng bệnh tật kép ở người cao tuổi đòi hỏi Nhà nước, cộng đồng và gia đình phải đầu tư nguồn ngân sách đáng kể cho công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc y tế cho người cao tuổi. 

2.4. Chênh lệch lớn trong cơ cấu giới tính NCT

Một điểm rất đáng chú ý là ở nước ta đang xảy ra tình trạng mất cân bằng giới tính trầm trọng ở người cao tuổi khi mà số NCT là phụ nữ lớn hơn nhiều so với số NCT là nam giới. Trong giai đoạn 2014-2018, trung bình cứ 100 NCT là nam giới thì có tới trên 140 NCT là phụ nữ (trái ngược với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh khi mà số bé gái luôn ít hơn số bé trai). 

Bảng 2. Số NCT nữ tương ứng với 100 NCT nam

Năm

2014

2015

2016

2017

2018

      Nam

3767

3771

3961

4169

4396

Nữ

5419

5711

5871

6056

6263

Tỷ lệ NCT nữ/100 NCT nam

144

151

148

145

142

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê. 

2.5. Già hoá dân số nhanh làm rút ngắn thời kỳ dân số vàng

Giai đoạn cơ cấu dân số vàng là giai đoạn có tỷ số phụ thuộc chung ≤ 50% (nói cách khác, cứ 2 người trong độ tuổi lao động chỉ phải “gánh” ≤ 1 người ngoài độ tuổi lao động). Ở nước ta, năm 2007, tỷ số này là khoảng 50%, nghĩa là cứ 2 người trong độ tuổi lao động mới có một người ngoài độ tuổi lao động. Thời kỳ dân số vàng này chỉ xuất hiện duy nhất một lần đối với mỗi quốc gia. Tại Việt Nam già hoá dân số diễn ra cùng lúc với dân số vàng. 

Theo một nghiên cứu của Liên Hợp Quốc, giai đoạn cơ cấu dân số vàng ở Xingapo dự báo kéo dài trên 40 năm, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan khoảng 40 năm. Còn tại Việt Nam, già hoá dân số nhanh khiến giai đoạn dân số vàng của Việt Nam (bắt đầu từ năm 2007) dự báo sẽ ngắn hơn so với một số nước khác trong khu vực. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. UNFPA (2012), Báo cáo tóm tắt “Già hoá trong Thế kỷ 21: Thành tựu và Thách thức”.
2. ILO (1967), Convention C128 - Invalidity, Old-Age and Survivors' Benefits Convention, (No. 128).
3. CESCR, General Comment No. 6 (1995), The economic, social and cultural rights of older persons.
4. Quốc hội (2019), Luật Người cao tuổi của Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 6, số 39/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009.
5. UNFPA, Vietnam’s Ageging population, http://www.un.org.vn/en/videos-press-centre-submenu-279/2987-viet-nam-s-ageing-population.html.
6. Tổng cục Thống kê, UNFPA (2016), Dự báo dân số Việt Nam 2014-2049, NXB Thông tấn, Hà Nội, tháng 11/2016.
 

Trích nguồn:
Tác giả: Nhữ Lê Thu Hương
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202