Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh 5 tháng đầu năm 2019

Cập nhật lúc: 24/06/2019 11:11:01 AM

Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tháng 5 gặp khó do ngành nông nghiệp phảiđối mặt với nhiều thách thức

Tháng 5/2019, ngành nông nghiệp gặp thách thức lớn trong chăn nuôi lợn và xuất khẩu nông sản. Dịch tả lợn châu Phi diễn biến khá phức tạp, tiếp tục lây lan trên diện rộng. Tính đến hết tháng 5, dịch tả lợn Châu Phi đã lây lan tới 43 tỉnh, thành, hơn 300 huyện, hơn 3.000 xã. Số lượng lợn bị tiêu hủy là hơn 2 triệu con, chiếm 6,5% tổng số lợn của cả nước[1]. Chăn nuôi lợn hiện nay chiếm khoảng 52% giá trị toàn ngành chăn nuôi, 10% giá trị toàn ngành nông nghiệp, và 1,2% ngành nông, lâm, thủy sản, giải quyết sinh kế cho 2,4 triệu hộ gia đình. Do đó dịch tả lợn Châu Phi không chỉ gây thiệt hại lớn cho ngành nông nghiêp mà còn ảnh hưởng lớn đến đời sống người nông dân. Bên cạnh đó, xuất khẩu nông sản liên tục đối mặt với khó khăn khi giá trị xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực sụt giảm do áp lực từ nguồn cung lớn dẫn tới giảm giá sâu. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch XK NLTS ước đạt 16,1 tỷ USD, tăng 1,2% so với cùng kỳ, trong đó nhóm hàng nông sản chính ước đạt khoảng 7,7 tỷ USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng có khối lượng XK tăng nhưng giá trị XK giảm do giá giảm như: Hạt điều khối lượng xuất khẩu tăng 7,9%, giá trị đạt 1,2 tỷ USD (-14,9%); hạt tiêu khối lượng tăng 33,2%, giá trị đạt 372 triệu USD (-2,4%)... Mặt hàng thủy sản ước đạt 3,15 tỷ USD, giảm nhẹ so với cùng kỳ do do sản lượng tôm nước lợ, cá tra xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Trung Quốc giảm.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng ổn định nhưng không cao như cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng tích cực hơn tháng 4 (+9,4% so với +9,2%) chủ yếu nhờ tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo tăng 10,9% (cùng kỳ năm trước tăng 12,1%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Bên cạnh đó, ngành Sản xuất, phân phối điện có mức tăng trưởng khá mạnh so với các tháng trước đó cùng sự gia sản lượng của Cty Nhiệt điện Duyên hải (Trà Vinh). Tính chung 5 tháng đầu năm, ngành này tăng 10,3%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, trong các ngành CN cấp II, ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính, sản phẩm quang học bắt đầu phục hồi sau 2 tháng tăng trưởng âm. Tuy nhiên, trong 5 tháng, mức tăng thấp của ngành này (chỉ +3,1%) cùng mức giảm của ngành SX thuốc, hóa dược, dược liệu và ngành SX phương tiện vận tải khác đã khiến mức tăng của toàn ngành chế biến,  chế  tạo  chỉ  tương  đương  mức  tăng  tháng  trước  và  thấp  hơn  mức  +12,1% cùng kỳ năm 2018.

Chỉ số PMI tháng 5 phát đi tín hiệu lạc quan của khối sản xuất. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam đã tăng từ mức 52.7 điểm trong tháng 4 lên 53.9 điểm trong tháng 5 (Nguồn Nikkei). Kết quả này cho thấy sự cải thiện đáng kể nhất của lĩnh vực sản xuất kể từ tháng 4/2017. Số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng trong tháng 5, là tốc độ tăng mạnh và nhanh nhất trong 14 tháng. Tổng số lượng đơn đặt hàng mới tăng nhờ đơn đặt hàng mới từ nước ngoài tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 3/2011. Cùng với mức tăng nhanh hơn của sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới, mức độ lạc quan trong kinh doanh cũng đã tăng lên trong tháng 5. Hơn 52% số người trả lời khảo sát dự kiến sản lượng tăng trong năm tới, và mức độ lạc quan có được chủ yếu do số lượng đơn đặt hàng mới được dự đoán tiếp tục tăng.

Khu vực dịch vụ duy trì ổn định ở mức khá

Bước sang tháng 5/2019 các hoạt động bán buôn, bán lẻ; dịch vụ lưu trú, ăn uống sôi động do người dân gia tăng mua sắm và xu hướng đi du lịch. Tính đến tháng 5, hoạt động bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiếp tục là một điểm sáng trong diễn biến kinh tế. Một số yếu tố hỗ trợ gồm có: giá cả thị trường khá ổn định, cung cầu hàng hóa được đảm bảo, tác động của yếu tố thời vụ (tháng 5 bắt đầu vào mùa du lịch hè). Tăng trưởng doanh thu bán lẻ tháng 5 so cùng kỳ đạt 11,4%, lũy kế 5 tháng tăng trưởng 11,6% và 8,6% (nếu không có yếu tố giá). Đây là những mức tăng rất tích cực nếu so với tăng trưởng cùng kỳ năm 2018 (các mức tăng cùng kỳ lần lượt là 10,4%; 10,1% và 8,5%).

Tuy nhiên, dịch vụ du lịch có phần giảm sút so với cùng kỳ. Tăng trưởng khách quốc tế ở mức thấp so với cùng kỳ 2018. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam đang tăng trưởng chậm lại với tốc độ tăng trưởng 5 tháng đầu năm là  8,8%  (so mức 29,5% cùng kỳ năm 2018), chủ yếu do khách từ thị trường Trung Quốc (chiếm xấp xỉ 30% tổng lượng khách) sụt giảm (-0,8%).

 


[1] Theo nhận định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202