Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Quan điểm về sở hữu trí tuệ và những thách thức trong thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Cập nhật lúc: 18/12/2020 10:24:00 AM

Sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mọi quốc gia trong kỷ nguyên tri thức. Sở hữu trí tuệ dành sự thừa nhận chính thức về mặt pháp lý đối với các nhà sáng tạo thông qua việc bảo vệ sáng kiến trí tuệ của họ, từ đó trực tiếp tạo ra các tác động tích cực trong việc tạo động lực cho các nỗ lực sáng tạo mới, kích thích đòn bẩy cạnh tranh trên thị trường. Việc xây dựng và thực thi một hệ thống luật pháp với những chính sách mạnh mẽ về sở hữu trí tuệ có thể hỗ trợ đắc lực trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng như khuyến khích các hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST) trong nước, từ đó đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia nói chung cũng như các doanh nghiệp nói riêng trong thời đại mới.

Quan điểm về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Sử dụng công cụ SHTT làm đòn bẩy thúc đẩy hoạt động ĐMST, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội là chủ trương của Chính phủ Việt Nam. Để thực hiện được điều này, Việt Nam đã từng bước xây dựng được một hệ thống pháp luật SHTT hoàn chỉnh, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, tạo ra một khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động xác lập, thực thi và khai thác quyền SHTT, từ đó tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy các hoạt động đầu tư, thương mại cho các chủ thể trong và ngoài nước.

Một trong những hoạt động trọng tâm của Việt Nam hiện nay là xác lập quyền sở hữu công nghiệp. Trong những năm qua, Cục SHTT đã thực hiện nhiều công việc để nâng cao hiệu quả của hoạt động này như xây dựng và vận hành hệ thống quản trị đơn sở hữu công nghiệp (IPAS), áp dụng hệ thống ISO trong hoạt động tiếp nhận và xử lý đơn, đưa vào áp dụng hệ thống tiếp nhận đơn điện tử, tham gia hệ thống PPH cũng như tăng cường nguồn nhân lực cho công tác xử lý đơn.Để hỗ trợ cho hoạt động xác lập, thực thi và khai thác quyền SHTT, trong thời gian qua, Việt Nam đã tăng cường hoạt động đào tạo, nâng cao nhận thức của công chúng cũng như các chủ thể SHTT, nâng cao kiến thức và kỹ năng cho cán bộ các cơ quan quản lý và thực thi quyền SHTT.

Xác định việc cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin SHTT là chìa khóa giúp tăng hiệu quả cho quá trình xác lập, thực thi và khai thác quyền SHTT, Việt Nam đã và đang tập trung nỗ lực đầu tư cho hoạt động này. Với dự án tăng cường năng lực công nghệ thông tin đang được triển khai, trong thời gian tới, các cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu thông tin sẽ được cập nhật và hiện đại hóa, đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng.

Đặc biệt, với quan điểm đưa quyền SHTT thực sự trở thành một loại tài sản của doanh nghiệp, hỗ trợ cho hoạt động ĐMST và phát triển, trong 10 năm qua, Việt Nam đã triển khai một hoạt động đặc biệt trên phạm vi cả nước dành cho các chủ thể của hệ thống SHTT, đó là chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ. Đến nay, chương trình đã hỗ trợ tập huấn về SHTT cho các doanh nghiệp, cộng đồng với hơn 47.000 lượt người tham dự; tuyên truyền, phổ biến kiến thức về SHTT và quảng bá, giới thiệu về tài sản trí tuệ của các doanh nghiệp trên đài truyền hình của 49 địa phương với gần 5.000 số phát sóng; đăng ký bảo hộ sáng chế cho gần 100 giải pháp, công nghệ; áp dụng thực tiễn cho 11 sáng chế, giải pháp công nghệ; tạo lập, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ cho 261 sản phẩm đặc thù của địa phương dưới hình thức chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận.

Với quan điểm ĐMST lấy SHTT là nền tảng và doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025 nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển, khuyến khích các hoạt động đầu tư về SHTT, tìm kiếm, khai thác sáng chế phát triển công nghệ nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Đối với cộng đồng ASEAN, Việt Nam tham gia tích cực vào hoạt động của Hiệp hội, có những đóng góp cho thiết thực cho hệ thống SHTT, ĐMST và phát triển của khu vực. Đối với Kế hoạch xây dựng Chiến lược SHTT của ASEAN giai đoạn 2016-2025, Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu trong việc sử dụng hiệu quả hệ thống bản quyền, cập nhật hoặc soạn thảo các hướng dẫn thẩm định nội dung đăng ký sáng chế quốc gia. Việt Nam đã tham gia xây dựng hướng dẫn chung của ASEAN về thẩm định kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và xúc tiến thương mại hóa chỉ dẫn địa lý, xây dựng chiến lược và bảo vệ thương hiệu, nâng cao nâng cao năng lực của ngành sản xuất trong khu vực ASEAN.

Xác định SHTT là nền tảng của ĐMST, thúc đẩy sự phát triển, trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều quan hệ hợp tác với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) nhằm thúc đẩy sự phát triển của hệ thống SHTT trong nước. Nhiều hoạt động được ghi nhận như hiện đại hóa quản trị đơn sở hữu công nghiệp, thương mại hóa tài sản trí tuệ trong các viện nghiên cứu, trường đại học và các hoạt động nâng cao nhận thức của công chúng về sở hữu trí tuệ,... Hiện nay, với sự giúp đỡ của WIPO, Việt Nam đang nỗ lực triển khai xây dựng Chiến lược SHTT quốc gia để xác định phương hướng, kế hoạch phát triển hệ thống SHTT Việt Nam trong giai đoạn tới. Điều này được kỳ vọng sẽ tiếp tục nâng cao vai trò của SHTT trong việc đóng góp vào sự phát triển của kinh tế - xã hội, thúc đẩy ĐMST quốc gia trong thế kỷ 21.

Một số khó khăn trong thực thi sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

SHTT là công cụ đắc lực cho hoạt động ĐMST. Trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, SHTT ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng, là công cụ đắc lực cho hoạt động ĐMST, hỗ trợ tích cực cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Thực thi SHTT cũng vì thế trở thành một nội dung quan trọng trong hầu hết các thoả thuận về hợp tác kinh tế song phương, đa phương giữa Việt Nam với các quốc gia khác. SHTT đã, đang và sẽ hỗ trợ mạnh mẽ hoạt động ĐMST bằng việc ghi nhận và bảo vệ quyền của những nhà sáng tạo, khuyến khích và tạo động lực cho họ tiếp tục ĐMST; tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư cho ĐMST; tạo ra và duy trì một hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin SHTT đa dạng, phong phú; hệ thống SHTT đã thể hiện vai trò là công cụ hữu hiệu để thúc đẩy hoạt động sáng tạo ở Việt Nam. Chỉ số ĐMST toàn cầu của Việt Nam ngày càng tăng. Đặc biệt, chỉ số ĐMST của Việt Nam được đánh giá mạnh ở các chỉ số thuộc nhóm đầu ra của ĐMST bao gồm sản phẩm của tri thức, công nghệ và sản phẩm sáng tạo.

Tuy nhiên, hiện nay, quá trình thực thi bảo hộ SHTT tại Việt Nam vẫn gặp phải một số khó khăn như:

1) Các văn bản về thực thi quyền SHTT mặc dù đã được ban hành tương đối đầy đủ, song do có liên quan đến nhiều ngành khác nhau, thuộc các văn bản pháp luật ở các cấp độ khác nhau nên vẫn chưa có sự thống nhất.

2) Cơ chế đảm bảo thực thi SHTT chưa được hoàn thiện cũng như phát huy đúng mực, thể hiện ở chỗ số lượng các vụ việc có liên quan đến SHTT và vi phạm SHTT được giải quyết ở toà án rất ít, trong khi số vụ việc có liên quan đến vi phạm SHTT là không hiếm, chủ yếu mới được giải quyết tại các cơ quan hành chính. Mặc dù, về hình thức, các quy định pháp luật về thực thi quyền SHTT đã tương đối đầy đủ, song một số quy định mới chỉ dừng ở nguyên tắc chứ chưa thực sự chi tiết, dẫn tới việc áp dụng trong thực tế còn nảy sinh nhiều vướng mắc.

3) Các tổ chức bảo đảm thực thi SHTT chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế về năng lực. Quá trình thực thi SHTT giữa các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền chưa có sự kết nối vững chắc cũng như phối hợp có hiệu quả; đồng thời, nhiều cơ quan tham gia trong quá trình thực thi quyền SHTT chưa có đủ năng lực chuyên môn phù hợp hoặc chuyên môn chưa đồng đều, dẫn đến không đáp ứng được yêu cầu công việc. Đây là một thực tế đáng lưu tâm, vì hiện nay, số lượng cán bộ được đào tạo bài bản về lĩnh vực SHTT là rất ít.

4) Hệ thống hỗ trợ thực thi quyền SHTT chưa đáp ứng được nhu cầu; mạng lưới dịch vụ SHTT còn mỏng, chưa có toà chuyên trách về SHTT.

5) Hiểu biết của toàn xã hội đối với vấn đề SHTT và bảo hộ SHTT còn hạn chế, chưa hình thành thói quen tôn trọng quyền SHTT cũng như coi việc xâm phạm quyền SHTT là vi phạm pháp luật; đồng thời, các chủ thể sở hữu quyền SHTT chưa chủ động thực hiện bảo vệ quyền SHTT của mình.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Cục SHTT (2017). SHTT, ĐMST và phát triển. https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/12398/so-huu-tri-tue--doi-moi-sang-tao-va-phat-trien.aspx
  2. Linsu Kim (2003). Technology Transfer & Intellectual Property Rights: The Korean Experience. UNCTAD-ICTSD Project on IPRs and Sustainable Development.
  3. Yee Kyoung Kim, Keun LEE and Ki-Neung CHOO (2012). Chapter 2: Intellectual Property Rights and Innovation in Economic Development in Korea. World Intellectual Property Organization (WIPO). The Economics of Intellectual Property in the Republic of Korea.
  4. Sung Jin Kang and Hwan Joo Seo (2012). Chapter 4: Intellectual Property Rights, Spillovers and Innovative Activities in Korea. World Intellectual Property Organization (WIPO). The Economics of Intellectual Property in the Republic of Korea.
  5. Jaeyong Song (2006). Intellectual Property Regimes, Innovative Capabilities, and Patenting in Korea, Seoul Journal of Business. Vol 12, No.2.
  6. Cục SHTT Việt Nam (2009). Những điều chưa biết về SHTT. Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ.
Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202