Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Bảo hiểm thất nghiệp trong bối cảnh già hóa dân số tại Việt Nam

Cập nhật lúc: 30/12/2020 02:29:00 PM

Bảo hiểm thất nghiệp sau 11 năm triển khai thực hiện

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một trong các chính sách quan trọng trong hệ thống ASXH, là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, nhưng quan trọng hơn là tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề nhằm duy trì việc làm cho người lao động. Kể từ khi bắt đầu thực hiện chính sách BHTN (01/01/2009), đến nay, sau 11 năm triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả khả quan.

Một là, số lượng người tham gia và đóng BHTN liên tục tăng qua các năm và đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao: nếu năm 2009 mới chỉ có 5.993.300 người tham gia BHTN thì tới năm 2015 (năm đầu tiên Luật Việc làm có hiệu lực) đã có 10.308.180 người tham gia tăng 11,8% so với năm 2014; năm 2016 có 11.061.562 người tham gia tăng 7,3% so với năm 2015; năm 2017 có 11.774.742 người tham gia, tăng 8,1% so với năm 2016 và năm 2018 có 12.680.173 người tham gia tăng 7,7% so với năm 2017, bằng 87,7% tổng số người tham gia BHXH bắt buộc (14,45 triệu người), tổng số đơn vị tham gia BHTN là 361.586 đơn vị.

Bảng 1: Số người tham gia BHTN giai đoạn 2015-2018

Năm

Số người tham gia và đóng BHTN (triệu người)

Tăng so với năm trước (%)

Tỷ trọng trong LLLĐ (%)

2015

10.30

11,8

19,1

2016

11.06

7,3

20,3

2017

11.77

8,1

21,4

2018

12.68

7,7

22,9

2019

13.4

6,3

27,5

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2019.

Tuy nhiên, tỷ lệ người tham gia BHTN vẫn còn thấp so với tổng lực lượng lao động (LLLĐ) toàn xã hội. Nguyên nhân là do nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động còn hạn chế. Nhiều người chưa hiểu rõ về quyền và trách nhiệm của mình trong việc tham gia và hưởng BHTN. Người lao động thường chỉ quan tâm đến chế độ trợ cấp thất nghiệp mà không chú ý đến chế độ tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề.

Hai là, về thu và chi BHTN. Tổng số tiền thu BHTN không ngừng tăng qua các năm. Tính đến thời điểm năm 2018, tổng số tiền thu BHTN năm 2018 là 15.531 tỷ đồng, tăng 14,9% so với tổng số tiền thu năm 2017 (13.517 tỷ đồng).

Đối với việc chi trả các chế độ BHTN, do số người được hưởng các chế độ BHTN tăng dẫn đến tổng tiền chi cho các chế độ BHTN tăng: năm 2015, tổng chi các chế độ BHTN là 4.882,9 tỷ đồng (tăng 1,3% so với năm 2014); năm 2016 là 5.171 tỷ đồng (tăng 5,9% so với năm 2015); năm 2017 là 7.831 tỷ đồng (tăng 36,31% so với năm 2016); ước thực hiện năm 2018 là 9.722 tỷ đồng, trong đó, chi cho trợ cấp thất nghiệp chiếm 92,8%, chi hỗ trợ học nghề chiếm 0,9%, chi BHYT chiếm 4,1% so với tổng chi cho các chế độ BHTN. Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, ước kết dư Quỹ BHTN tính đến cuối năm 2018 là 79.073 tỷ đồng, dự báo năm 2020, Qũy BHTN vẫn đảm bảo an toàn.

Ba là, về tư vấn, giới thiệu việc làm. Các trung tâm dịch vụ việc làm đã tập trung triển khai thực hiện, đa dạng hóa các hình thức và cải tiến quy trình thực hiện, số lượng và hiệu quả người được tư vấn, giới thiệu việc làm tăng theo từng năm và chiếm tỷ lệ khá cao so với số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp (trên 96,8% so với số người hưởng trợ cấp thất nghiệp năm 2019).  

Bốn là, về hỗ trợ học nghề. Hỗ trợ học nghề là một phần trong chính sách BHTN nhằm giúp người lao động chuyển đổi nghề nghiệp để sớm quay trở lại thị trường lao động. Theo báo cáo của 63 Trung tâm dịch vụ việc làm, tất cả những người thất nghiệp có nguyện vọng học nghề đều được tổ chức để hỗ trợ học nghề theo đúng quy định của pháp luật. Công tác hỗ trợ học nghề đã có những chuyển biến tích cực, số người được hỗ trợ học nghề có xu hướng tăng: năm 2015 có 24.363 người được hỗ trợ học nghề; đến năm 2018, số người được hỗ trợ học nghề là 37.990 người. Năm 2019, đã có trên 180.000 người thất nghiệp được hỗ trợ học nghề, nhiều người thất nghiệp sau khi tham gia các khóa học nghề đã có việc làm và ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, số người được hỗ trợ chỉ chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động thất nghiệp trên cả nước với tỷ lệ 3,4% năm và tăng lên 15,6% năm 2019.

Bảng 2: Tổng kết hoạt động hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm
                                    Đơn vị: Người

 

2018

2019

Số người thất nghiệp

1,100,000

1,155,000

Số người nộp hồ sơ thất nghiệp

755,749

829,204

Số người có quyết định hưởng bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng

740,749

812,866

Số người được hỗ trợ học nghề

37,990

180,000

Số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm

1,390,429

2,988,030

 

Nguồn: Cục Việc làm – Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2020.

Năm là, về tiếp nhận và giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ khi Luật Việc làm có hiệu lực với việc thay đổi cách tính thời gian hưởng BHTN, tỷ lệ tăng số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp giai đoạn 2015-2018 là khá ổn định, tỷ lệ bình quân là 12,5%. Ngoài ra, người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp còn được cung cấp thông tin về thị trường lao động để tìm việc làm và sớm trở lại thị trường lao động, được cấp thẻ BHYT trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có thể KCB trong thời gian thất nghiệp.

Bảo hiểm thất nghiệp trong bối cảnh GHDS

Việt Nam có lực lượng lao động đông đảo nhưng chất lượng và năng suất lao động còn thấp, do đó thu nhập bình quân của lao động còn thấp là điều tất yếu. Số lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp hiện nay cũng mới chiếm khoảng 27,5% LLLĐ trong độ tuổi. Trong khi đó, GHDS đang diễn ra nhanh chóng đòi hỏi hệ thống ASXH phải vững vàng nhằm đảm bảo an sinh cho người dân. Nghiên cứu cho thấy, GHDS trong bối cảnh của nước ta có tác động đến BHTN trên hai bình diện:

- Cơ hội: GHDS là giai đoạn số người bước vào tuổi lao động (LLLĐ) tăng chậm, quy mô LLLĐ giảm dần. Khi đó, nếu nguồn cung lao động đáp ứng tốt nhu cầu xã hội sẽ làm cho thất nghiệp giảm. Điều này đồng nghĩa với việc quỹ BHTN ngày càng được đảm bảo bởi tăng thu giảm chi. Như vậy, xét trong dài hạn, BHTN sẽ giúp cho lao động kháng cự được với những cú sốc về việc làm có thể xảy ra.

- Thách thức: Chất lượng lao động thấp, không đáp ứng được nhu cầu xã hội sẽ dẫn đến thất nghiệp gia tăng dẫn đến nguy cơ BHTN cạn kiệt bởi chi nhiều hơn thu tác động tiêu cực đến cả hệ thống ASXH.

Tác động của GHDS đến BHTN thể hiện ở một số khía cạnh cụ thể sau: 

Thứ nhất, GHDS có thể làm gia tăng việc chi trả của quỹ BHTN vì xu hướng này làm tăng nguy cơ thất nghiệp đối với lao động cao tuổi. 
Già hóa dân số tiềm ẩn tác động tiêu cực đối với hệ thống bảo hiểm thất nghiệp thông qua những là thách thức đối với thị trường lao động như vấn đề già hóa lực lượng lao động và trình độ đào tạo của người lao động. Các hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề cũng gặp nhiều trở ngại.

Năm 2018, tình trạng sa thải lao động lớn tuổi trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đã từng diễn ra khá phổ biến tại một số khu công nghiệp . Những doanh nghiệp trên phần lớn thuộc các ngành dệt may, da giày, chế biến thủy, hải sản, lắp ráp linh kiện… dễ dàng sa thải lao động lớn tuổi, thay thế bằng những lao động trẻ với thời gian đào tạo không nhiều, cùng mức lương và mức đóng BHXH thấp. Những lao động lớn tuổi sau thời gian dài cống hiến với mức lương và mức đóng BHXH tăng dần, lại đứng trước nguy cơ bị doanh nghiệp đào thải. Hậu quả là tỷ lệ lao động từ 35-40 tuổi thất nghiệp ngày càng cao, cá biệt, có những lao động nữ mới chỉ hơn 30 tuổi đã phải nghỉ việc. Nguyên nhân khiến lao động lớn tuổi bị sa thải một phần do người lao động không đủ sức khỏe để làm việc trong dây chuyền công nghiệp; doanh nghiệp thu hẹp sản xuất phải cắt giảm lao động. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là do doanh nghiệp tại địa phương cần thay lao động trẻ hơn, khỏe hơn, NSLĐ cao hơn và chỉ phải trả mức lương thấp hơn lao động lâu năm. 

Bên cạnh đó, người lao động lớn tuổi khi bị thất nghiệp sẽ phải mất nhiều thời gian hơn để làm việc trở lại. Điều này khiến cho họ trở nên nản lòng và rời khỏi LLLĐ, trở thành đối tượng cần phải chăm sóc của BHTN.

Thứ hai, hoạt động hỗ trợ học nghề sẽ gặp khó khăn đối với những người lao động lớn tuổi bị thất nghiệp do họ thường là lao động phổ thông, trình độ văn hóa còn hạn chế, độ tuổi cao nên có tâm lý ngại chuyển đổi nghề.

Đặc biệt, trước xu hướng cải cách kinh tế, các công ty buộc phải cơ cấu lại tổ chức, phải thay đổi mô hình kinh doanh cũng như hình thức kinh doanh nên những người lao động lớn tuổi không đủ sức khỏe hoặc không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao của công việc sẽ bị sa thải làm tăng số lượng người thất nghiệp. Trong khi đó, số lượng lao động của Việt Nam chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn (78,1%) trong LLLĐ hiện nay càng có nguy cơ rơi vào tình trạng thất nghiệp trong tương lai khi cuộc cách mạng 4.0 diễn ra ngày càng mạnh mẽ.

Thứ ba, xu hướng GHDS sẽ gây khó khăn cho hoạt động giới thiệu việc làm – một trong những chức năng của BHTN. Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0, các doanh nghiệp cần những lao động trẻ khỏe, trình độ kỹ năng cao hơn, trong khi đó những lao động lớn tuổi khó có khả năng đáp ứng được yêu cầu. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng không muốn nhận lao động lớn tuổi do việc họ chỉ còn ít thời gian làm việc cho doanh nghiệp trước khi nghỉ hưu, cũng không muốn đào tạo cho người lao động chỉ còn thời gian làm việc ngắn hơn cho công ty của họ. Do đó, việc tìm việc làm thay thế cho những người lao động lớn tuổi đã bị thất nghiệp trở nên rất khó khăn.  

Tài liệu tham khảo
1. Tổng cục Thống kê (2019). Niên giám Thống kê 2018, NXB Thống kê.
2. Tổng cục Thống kê (2020). Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019.
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011). Chiến lược phát triển ASXH giai đoạn 2010-2020, Hà Nội.
4. Nguyễn Tiến Hùng (2016). Vai trò của ASXH đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ, Hà Nội.
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2014). Kỷ yếu đề tài cấp Bộ 2012-2013, NXB Khoa học kỹ thuật. 
6. Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (2016). Dự báo dân số Việt Nam 2014-2049.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Nguyễn Linh Chi
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202