Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi và giải pháp trong thời gian tới

Cập nhật lúc: 29/12/2020 10:00:00 AM

Trong thời gian qua, mặc dù có nhiều biến động về kinh tế trong nước và quốc tế, nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn coi trọng công tác bảo đảm an sinh xã hội (ASXH), đặt nhiệm vụ phát triển dân sinh trong mối tương quan hài hòa và gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, giữa đầu tư phát triển kinh tế với đầu tư bảo đảm phúc lợi xã hội và ASXH, đặc biệt với đối tượng là người cao tuổi (NCT).

Những kết quả đạt được trong chính sách đối với NCT

Những chính sách đối với NCT ngày càng hoàn thiện và rõ ràng với những chế độ cơ bản về chăm sóc sức khỏe, y tế, đời sống tinh thần và hỗ trợ về tài chính.

Chính sách trợ giúp xã hội đã có tác động tích cực, bảo đảm đời sống vật chất tinh thần, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với NCT, đồng thời phần nào làm giảm đi những khó khăn về đời sống cho hàng triệu NCT. Trong quá trình triển khai chính sách, một số địa phương có điều kiện ngân sách đã nâng mức trợ cấp xã hội lên cao hơn mức quy định chung của Nhà nước (Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Bình Dương…). Riêng tỉnh Bắc Ninh đã hạ tuổi hưởng trợ cấp xuống tuổi 75 để NCT từ 75-79 được hưởng mức trợ cấp bằng 50% so với mức trợ cấp quy định chung. Đây có thể coi là những bước đi thử nghiệm nhằm tiếp tục thực hiện mở rộng đối tượng hưởng để phù hợp với xu hướng già hóa dân số và khả năng ngân sách của Nhà nước, hướng đến mục tiêu bảo đảm mức sống cho mọi NCT trên phạm vi cả nước.

Chính sách hưu trí thời gian qua cũng đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Số người tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) hàng năm (bao gồm cả tự nguyện và bắt buộc) tăng đồng nghĩa với việc số thu vào quỹ BHXH, quỹ hưu trí cũng có sự gia tăng hàng năm. Việc số lượng người tham gia BHXH tăng cao thể hiện được những ưu điểm mà chính sách hưu trí mang lại cho người dân. Ngày càng có nhiều người trong độ tuổi lao động đã tham gia vào quá trình đóng BHXH để được nhận chế độ hưu trí khi về già.

Chính sách y tế cũng đã thể hiện được sự quan tâm của Chính phủ với NCT. Hiện cả nước có 106 bệnh viện cấp Trung ương, cấp tỉnh có khoa Lão khoa; gần 1.000 khoa khám bệnh có buồng khám riêng hoặc bố trí bàn khám riêng cho NCT; hơn 10.183 giường điều trị nội trú ưu tiên cho NCT; hơn 1,57 triệu NCT được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe. Tỷ lệ NCT tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) trên tổng số đối tượng chiếm trên 11% và tăng dần qua các năm. Năm 2016, cơ quan BHXH cấp thẻ BHYT cho NCT là 8,8 triệu người; năm 2017 là 9,8 triệu người và năm 2018 là trên 11 triệu người (con số này chưa bao gồm đối tượng NCT là thân nhân quân nhân do BHXH Bộ Quốc phòng cấp thẻ BHYT).

Một số khó khăn, thách thức trong thực hiện chính sách ASXH đối với NCT

Về nội dung chính sách bảo trợ xã hội cơ bản đã bao gồm được những đối tượng là NCT cần sự trợ giúp của xã hội. Tuy nhiên vẫn còn những đối tượng chính sách vẫn chưa bao phủ đến như những NCT thuộc hộ gia đình cận nghèo, những người già neo đơn không thuộc diện trợ cấp của chính sách. Hơn nữa, đối tượng NCT chủ yếu được hướng tới của chính sách là NCT trên 80 tuổi nên phạm vi hẹp hơn so với quy định của Luật NCT (2010).

Không ít NCT từ 80 tuổi trở lên do không có sự thống nhất về ngày, tháng, năm sinh giữa chứng minh thư và hộ khẩu đã phải chờ đợi rất lâu mới được hưởng trợ cấp xã hội. Cả nước hiện vẫn còn hàng chục nghìn NCT chưa được hưởng chính sách trợ cấp xã hội do không còn giấy tờ, hồ sơ liên quan. Trong khi đó, các cơ quan chức năng lại chưa có hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ những vướng mắc này. Do tuổi cao sức yếu, nhiều NCT hơn 80 tuổi đã qua đời mà không được hưởng chính sách trợ cấp xã hội của Nhà nước.

Trong quá trình thực hiện vẫn còn một số vướng mắc, chưa đồng bộ giữa các địa phương, có tỉnh đã có sự quan tâm kịp thời, sâu sắc, nhưng có tỉnh chưa thực sự quan tâm đến vấn đề bảo trợ xã hội.

 Mức sống của NCT tại nhiều nơi còn thấp, một bộ phận phải lao động kiếm sống hoặc ở trong nhà tạm khiến tình trạng sức khỏe giảm sút. Đặc biệt, NCT ở vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số có tuổi thọ thấp nên số lượng người được hưởng chính sách trợ cấp xã hội còn ít. Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực NCT còn gặp nhiều khó khăn, nhất là về chính sách, cơ chế khuyến khích tư nhân đầu tư vào các cơ sở chăm sóc NCT… Hiện có hàng trăm mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng do Nhà nước và nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện. Tuy nhiên, những mô hình này vẫn còn nhiều thách thức do nguồn kinh phí hạn hẹp, cơ sở hạ tầng còn rất hạn chế; nguồn nhân lực chưa ổn định và đáp ứng nhu cầu chăm sóc; đặc biệt là việc chăm sóc vẫn còn mang tính chất tự nguyện và chưa được lồng ghép trong các hoạt động chung ở cộng đồng.

Chính sách chăm sóc sức khỏe ban đầu còn hạn chế. Công tác tuyên truyền, phổ biến cho NCT những kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng đều chưa thực hiện tốt ở khâu chăm sóc sức khỏe ban đầu; bên cạnh đó, năng lực và trình độ của cán bộ trạm y tế cấp xã, phường còn hạn chế, chưa đảm đương được công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đối tượng NCT. Luật NCT quy định rõ ràng, NCT được KCB định kỳ, được theo dõi, quản lý về y tế, được ưu tiên khi KCB tại cơ sở y tế, nhưng ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nhiều NCT chưa bao giờ được khám sức khỏe định kỳ. Hoạt động khám sức khỏe định kỳ cho NCT chưa được thực hiện tốt ở phạm vi trách nhiệm của trạm y tế. Hoạt động hỗ trợ cộng đồng và cá nhân để những đối tượng này có thể tham gia tích cực vào hoạt động chăm sóc sức khỏe của NCT không được đánh giá cao. Trong quá trình thực hiện việc chăm sóc sức khỏe cho NCT, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho NCT nước ta cũng bộc lộ việc không bắt kịp với sự đổi thay khi GHDS diễn ra.

Ngoài ra, Nhà nước thiếu hẳn nội dung hỗ trợ NCT trong việc lập kế hoạch về nhu cầu tài chính của họ; không có những hỗ trợ nào dành cho NCT đang tham gia vào thị trường lao động mặc dù đã hết tuổi lao động. Vấn đề hỗ trợ cho gia đình và những người chăm sóc NCT trong cộng đồng để giúp họ hiểu hơn những thay đổi và thách thức trong việc chăm sóc NCT trong bối cảnh có nhiều thay đổi chưa được Nhà nước quan tâm thỏa đáng.

Giải pháp chính sách an sinh xã hội cho NCT trong thời gian tới

Một là, mở rộng diện bao phủ của chính sách ASXH đối với NCT

Mở rộng độ bao phủ của chính sách trợ cấp tiền mặt theo một lộ trình phù hợp để đến 2025 độ bao phủ đạt mức 6-7% dân số và 9-10% vào năm 2030; đối tượng mở rộng cần ưu tiên nhóm NCT từ 75 trở lên không có nguồn thu nhập. Nâng mức trợ cấp tiền mặt chăm sóc nuôi dưỡng lên ít nhất bằng 40-50% mức lương cơ sở và tích hợp chính sách trợ cấp tiền mặt trợ giúp về giáo dục và y tế. Tùy thuộc vào hoàn cảnh, nhu cầu của từng nhóm đối tượng mà xác định các khoản phụ cấp tiền mặt khác nhau.

Thành lập Quỹ trợ cấp hưu trí xã hội, từng bước thực hiện và mở rộng trợ cấp hưu trí xã hội cho NCT không có lương hưu hoặc BHXH hàng tháng với nguồn đóng góp trước hết và chủ yếu từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội.

Giảm dần độ tuổi hưởng TGXH cho NCT (dự kiến từ 80 tuổi xuống 75 tuổi, sau đó là 70 tuổi…) gắn liền với việc mở rộng bao phủ của hệ thống BHXH.

Hai là, đảm bảo hệ thống ASXH phát triển bền vững gắn với đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho NCT

Đối với NCT, bên cạnh việc điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH theo cơ chế tạo nguồn, độc lập tương đối với chính sách tiền lương, giảm dần phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; từng bước cải thiện đời sống của người về hưu theo trình độ phát triển của nền kinh tế, để ASXH thực sự bền vững cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề chăm sóc sức khỏe cho NCT. Theo đó, cần có một chương trình mục tiêu quốc gia toàn diện về chăm sóc NCT, trong đó xác định một số mục tiêu lượng hoá được và có tính đặc trưng giới để cải thiện tình trạng sức khỏe NCT, giảm các bệnh mạn tính, tàn tật và tử vong khi bước vào tuổi già.

Xây dựng và củng cố mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe NCT, đặc biệt là mạng lưới kiểm soát các bệnh mạn tính. Mạng lưới y tế cần đảm bảo được sự tiếp cận thuận lợi cho các nhóm NCT thiệt thòi hoặc bất lợi như NCT ở nông thôn, phụ nữ cao tuổi hoặc NCT dân tộc ít người.

Phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT,

khuyến khích các hoạt động khám, chữa bệnh miễn phí cho NCT; chú trọng xây dựng và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức

năng cho NCT dựa vào cộng đồng. Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động các cơ sở chăm sóc NCT cùng với việc khuyến khích hỗ trợ các hoạt động chăm sóc NCT ở gia đình, cộng đồng.

Phát triển loại hình chăm sóc tại nhà cho NCT với sự tham gia của cộng đồng và chi phí thấp. Mô hình Chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng (được lồng ghép vào hoạt động của Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau) hiện đang được thực hiện thí điểm tại một số tỉnh là một mô hình tốt, phát huy được sự tham gia của cộng đồng trong chăm sóc NCT cần được nhân rộng.

Ba là, hoàn thiện cơ chế tài chính và huy động nguồn lực cho ASXH, đảm bảo thực hiện ASXH, đặc biệt đối với NCT

Ưu tiên ngân sách trung ương để thực hiện đầy đủ và kịp thời các chính sách hỗ trợ cho NCT. Tăng cường xã hội hóa, tiếp tục huy động nguồn lực trong nhân dân, khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp tham gia tích cực vào công tác ASXH, bảo trợ NCT. Xã hội hóa các trung tâm chăm sóc NCT là xu hướng chung phù hợp với sự phát triển của thời đại, muốn thu hút cần phải cởi mở hơn nữa trong các quy định ưu đãi các doanh nghiệp tư nhân thông qua các hình thức như: hỗ trợ miễn giảm thuế; ưu tiên cho thuê đất, cấp đất; ban hành khung giá dịch vụ phù hợp… nhằm nhân rộng các mô hình dưỡng lão chất lượng, nhân văn đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần sớm có cơ chế quy định, kiểm soát chuẩn chất lượng cơ sở vật chất, đội ngũ nhân lực, chế tài xử phạt với hành vi thiếu chuẩn mực với NCT ở viện dưỡng lão...

Tăng cường tổ chức các hội nghị trao đổi kinh nghiệm từ các mô hình thực tế hoạt động hiệu quả, qua đó nêu lên khó khăn, vướng mắc trong thực hiện xã hội hóa làm cơ sở đề xuất, sửa đổi các cơ chế, chính sách phù hợp.

Nhân rộng mô hình xây dựng Quỹ Chăm sóc NCT tại các địa phương, từ đó phát huy vai trò của NCT trong phát triển kinh tế, tham gia xây dựng nông thôn mới, sống vui, sống khỏe, sống có ích.

Tài liệu tham khảo

1. Tổng cục Thống kê (2019). Niên giám Thống kê 2018, NXB Thống kê.

2. BHXH Việt Nam. Báo cáo tình hình tham gia BHXH từ năm 2011-2018.

3. Phí Mạnh Phong và Phạm Thị Hồng Thắm (2016), Tham gia BHYT và sử dụng dịch vụ y tế của NCT ở Việt Nam: Nhìn từ các cuộc điều tra hộ gia đình.

4. Ngân hàng Thế giới (WB) (2016). Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam, Chuyên đề: Hướng tới cuộc sống khỏe mạnh và năng động cho NCT ở Việt Nam.

5.  Lê Hồng Hạnh (2020). Hoạch định chính sách dân số thích ứng với GHDS ở Việt Nam, Tạp chí Tổ chức nhà nước.

6. Trần Đức Thắng (2020). Người lao động cao tuổi - Góc nhìn từ khía cạnh pháp lý, Tạp chí Công Thương.

7. Một số trang web: baohiemxahoivietnam.vn; gso.gov.vn

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202