Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Tình hình kinh tế Việt Nam trong quý I/2021

Cập nhật lúc: 02/04/2021 10:53:00 AM

Trong bối cảnh thế giới vẫn đang tồn tại nhiều bất ổn từ đại dịch Covid-19, các vấn đề địa chính trị, xung đột thương mại căng thẳng nhưng, tăng trưởng kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi tại hầu hết các quốc gia và khu vực lớn. Điều này sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho Việt Nam đi vào thị trường quốc tế và khai thác lợi thế từ các Hiệp định thương mại đã được ký kết như CPTPP, EVFTA,… Trong nước, tình hình kinh tế vĩ mô ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh của một số ngành đã dần ổn định, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá, lạm phát duy trì ổn định, mặt bằng tỷ giá và lãi suất trong nước ở mức thấp hỗ trợ tăng trưởng và phục hồi sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, một số yếu tố được xem động lực và đóng góp lớn đối với tăng trưởng năm 2021 lại chưa đạt được kết quả như kỳ vọng như kết quả giải ngân vốn đầu tư từ NSNN thấp trong khi triển khai phân bổ vốn từ NSNN chậm; sự phục hồi sức mua của thị trường nội địa chưa rõ nét,… Để triển khai hiệu quả kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo sát sao, tận dụng những động lực của nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm thiểu những thách thức, rủi ro trong năm 2021.

Nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh, tăng trưởng kinh tế quý I/2021 vẫn được duy trì và là một điểm sáng trong khu vực. Ước tính tăng trưởng kinh tế tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,16%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,3%, khu vực dịch vụ tăng 3,34%. Một số nét lớn của tăng trưởng kinh tế trong quý I/2021 bao gồm:

Hoạt động sản xuất kinh doanh của một số ngành đã khởi sắc trở lại. Trong đó, ngành công nghiệp, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực cho tăng trưởng với mức tăng quý I đạt 9,45%, đóng góp 2,37 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản diễn biến khá tốt do thời tiết thuận lợi. Một số ngành trong khu vực dịch vụ đạt mức tăng trưởng dương như: bán buôn, bản lẻ (tăng 6,45%); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 7,35%)… và thị trường bất động sản và du lịch (đặc biệt du lịch nội địa) đang dần phục hồi nhờ những chính sách hỗ trợ tích cực phù hợp với diễn biến thực tế.

Tuy nhiên, một số ngành có hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn khó khăn như: Ngành khai khoáng: hai tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ngành khai khoáng giảm 11,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong nhóm ngành khai khoáng, khai thác than cứng và than non giảm 8,6%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 15,6%. Riêng khai thác quặng và kim loại và khai khoáng khác tăng 14,9% và 8,6%); Ngành ô tô – xe máy: Ba tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ngành khai khoáng giảm 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong nhóm ngành khai khoáng, khai thác than cứng và than non giảm 0,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 13,7%. Riêng khai thác quặng và kim loại và khai khoáng khác tăng 12,7% và 2,7%; Ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống: Hoạt động ăn uống, du lịch nghỉ dưỡng giảm, khiến doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm 3% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu du lịch lữ hành giảm 60% so với cùng kỳ năm trước; và ngành dịch vụ vận tải kho bãi: Tình hình thiếu container vận chuyển trong tháng 3/2021 đã giảm nhưng giá cước vận tải biển ở Việt Nam vẫn ở mức cao. Hiện nay khoảng 40% doanh nghiệp gặp khó khăn trong giao nhận container rỗng tại điểm tập kết, làm tăng thời gian lưu kho chờ xuất khẩu, khiến chi phí lưu kho, lưu bãi tăng lên khoảng 5 - 10% giá trị lô hàng và có thể làm giảm chất lượng hàng hóa..

Giải ngân và phân bổ vốn đầu tư từ NSNN ở mức thấp. Theo số liệu mới nhất của Bộ Tài chính, ước thanh toán từ đầu năm đến ngày 31/3/2021 được trên 60.749 tỷ đồng, đạt 11,95% kế hoạch (508.258,88 tỷ đồng) và đạt 13,17% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (461.300 tỷ đồng). Nguồn vốn nước ngoài ước giải ngân 3 tháng chưa đến 1%. Trong khi đó, Tính đến đầu tháng 3 năm 2021, còn gần 73.185 tỷ đồng vốn đầu tư chưa được các bộ, ngành, địa phương triển khai phân bổ, chiếm 15,86% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (461.300 tỷ đồng), trong đó, các bộ, ngành chưa phân bổ gần 26.199 tỷ đồng; các địa phương chưa phân bổ trên 46.986 tỷ đồng. Tuy nhiên, các Bộ, ngành và địa phương đang được thúc đẩy nhanh tiến độ các dự án cũng như phân bổ vốn của năm 2021. Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công. Qua đó, minh bạch hóa quy trình thanh toán, quyết toán, quy định rõ trách nhiệm giữa chủ đầu tư, các đơn vị liên quan và cơ quan thanh toán; kiên quyết cắt vốn đối với các dự án thực hiện không đảm bảo kế hoạch đề ra. Nhiều địa phương như TP. HCM, Hà Nội cũng đã có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các dự án nhằm thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân sẽ làm một trong những động lực và đóng góp quan trọng cho tăng trưởng năm 2021. Vì vậy, các Bộ, ngành đang nỗ lực sâu sát, đôn đốc quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ NSNN.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I/2021 đạt khá (ước tính đạt 4,1 tỷ USD tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước). Việc duy trì sự gia tăng về vốn FDI trong bối cảnh dịch Covid-19 cho thấy Việt Nam vẫn là một điểm đến hấp dẫn, được các nhà đầu tư quan tâm. Trong bối cảnh này, đòi hỏi các địa phương nắm chắc tình hình tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai dự án, góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi và hấp dẫn cho nhà đầu tư.

Thị trường tiêu dùng trong nước tiếp tục ảm đạm chủ yếu do tâm lý tiết kiệm hiện hữu khi nguy cơ dịch bệnh còn lớn, các hoạt động dịp lễ lớn sau tết hằng năm bị hạn chế, các hoạt động tập trung đông người bị trì hoãn.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa quý I/2021 tăng mạnh so với cùng kỳ, cán cân thương mại trong tháng 3 xuất siêu trở lại sau khi nhập siêu trong tháng 2. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong quý I/2021 ước đạt 77,34 tỷ USD, chủ yếu là nhờ mức tăng mạnh từ các mặt hàng máy vi tính, máy móc và thiết bị phụ tùng, gỗ và sản phẩm từ gỗ. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày dép và điện thoại giảm nhẹ, đi cùng với sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu tại các thị trường EU, ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong quý I ước đạt 75,31 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm 2020, chủ yếu là do nhập khẩu từ Trung Quốc tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, nhập khẩu điện thoại, máy vi tính, máy móc và trang thiết bị từ Trung Quốc liên tục chiếm trên 30% tổng kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này trong nhiều tháng.

- Lạm phát vẫn duy trì ổn định. Nguyên nhân chính gây ra lạm phát 3 tháng đầu năm là do giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã tăng 1,33% so với cùng kỳ do thiếu hụt nguồn cung và nhu cầu tiêu dùng cao vào dịp Tết, giá nhóm giao thông cũng đã tăng 0,48% do giá dầu trên thế giới liên tục tăng từ đầu năm đến nay. Ước tính đến hết Quí I, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,31% so với tháng 12 năm trước, và tăng bình quân 0,29% so với cùng kỳ.

- Tỷ giá USD/VND ổn định trong quý I/2021 và có thể duy trì trạng thái này trong năm 2021. Mặc dù ở thời điểm cuối tháng 2, đầu tháng 3/2021, tỷ giá USD/VND có diễn biến tăng do USD index tăng lên 92,5 điểm – mức cao nhất đạt được trong hơn 3 tháng, song, xét trong dài hạn kể từ giữa năm 2020, VND vẫn tương đối ổn định do với đồng USD. Hiện tại (20/3/2021), tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.194 VND/1USD, tăng nhẹ 64 đồng so với cuối tháng 2/2021 và so với thời điểm đầu năm 2021. Với các yếu tố hỗ trợ tích cực (từ phía cung, nguồn cung ngoại tệ trong nền kinh tế vẫn ở mức dồi dào nhờ thặng dư xuất khẩu và đầu tư nước ngoài của năm 2020; từ phía cầu, nhu cầu ngoại tệ không quá lớn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19), tỷ giá USD/VND có cơ sở để duy trì trạng thái ổn định trong năm 2021.

Mặt bằng lãi suất trong nước tiếp tục ổn định ở mức thấp nhằm hỗ trợ tăng trưởng và phục hồi sản suất kinh doanh. Lạm phát có khả năng vẫn ở mức thấp, tỷ giá USD/VND ổn định là các yếu tố nền tảng củng cố xu hướng giảm lãi suất, duy trì lãi suất thấp. Lãi suất huy động ở mức thấp là điều kiện thuận lợi tạo thêm dư địa để hạ lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp ở thời điểm hiện nay, đặc biệt là đối với các khoản vay trung và dài hạn.

Việc lãi suất hạ thấp hỗ trợ rất nhiều cho thị trường BĐS cả về hai phía gồm: (1) những nhà kinh doanh, xây dựng bất động sản khi được vay tiền của ngân hàng với lãi suất thấp, giảm được chi phí vốn và xây dựng công trình bất động sản; và (2) người mua bất động sản cũng có lợi khi được vay tiền với lãi suất thấp hơn. Tuy nhiên, trong thời gian qua, tín dụng bất động sản đã được Ngân hàng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản tiếp tục xu hướng giảm (năm 2018 là 26,76%; năm 2019 là 21,53%) và giảm mạnh trong năm 2020 (9,97%). Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 22/2019/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/1/2020 theo hướng tiếp tục siết lại hoạt động cho vay bất động sản khi giảm dần tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, đồng thời tăng hệ số rủi ro đối với khoản vay kinh doanh bất động sản từ 150% lên 200%. Năm 2020, tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản ước khoảng 9,97%, thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng chung (khoảng 12,13%). Đặc biệt là đầu tư, kinh doanh bất động sản, các dự án có quy mô lớn, phân khúc cao cấp, biệt thự, nghỉ dưỡng. Tập trung nguồn vốn tín dụng đầu tư vào các dự án nhà ở xã hội, các dự án nhà ở thương mại có hiệu quả cao, tiêu thụ tốt, đáp ứng nhu cầu thực của người dân.

Do các kênh đầu tư vàng và ngoại hối rủi ro/không sinh lời, vốn đã đổ mạnh vào thị trường chứng khoán. Lãi suất giảm chính là một trong những yếu tạo ra xung lực cho thị trưởng BĐS năm 2021 cùng với việc các thủ tục về BĐS được tháo gỡ, khi đó, so với kênh đầu tư chứng khoán thì đầu tư BĐS mang tính ổn định hơn.

Sức chống chịu của doanh nghiệp vơi dần. Đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực tới doanh nghiệp Việt Nam trên ba kênh: thiếu hụt nguyên liệu đầu vào, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp và thiếu vốn. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản tiếp tục xu hướng giảm (năm 2018 là 26,76%; năm 2019 là 21,53%) và giảm mạnh trong năm 2020 (9,97%). Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 22/2019/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/1/2020 theo hướng tiếp tục siết lại hoạt động cho vay bất động sản khi giảm dần tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, đồng thời tăng hệ số rủi ro đối với khoản vay kinh doanh bất động sản từ 150% lên 200%. Năm 2020, tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản ước khoảng 9,97%, thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng chung (khoảng 12,13%). Các doanh nghiệp có dấu hiệu hụt hơi trong đại dịch (đặc biệt là doanh nghiệp lớn). Toàn bộ số doanh nghiệp (i) đã tạm dừng hoạt động và chưa có kế hoạch quay trở lại sản xuất kinh doanh và (ii) chờ giải thể/phá sản trong mẫu khảo sát tháng 9/2020 của Tổng cục Thống kê là (chiếm 5% tổng số) doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp và ngành kinh tế đã nỗ lực điều chỉnh hoạt động, khắc phục các khó khăn về nguồn nguyên liệu và sụt giảm nhu cầu, tìm kiếm các thị trường tiêu thụ mới cũng như đẩy mạnh khai thác thị trường trong nước. Tuy nhiên, khả năng phục hồi của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu, phụ thuộc vào sự hồi phục của thị trường trong nước và khả năng kiểm soát dịch trên thế giới, việc triển khai hộ chiếu vaccine và nới lỏng chính sách nhập cảnh, và sự hồi phục của các thị trường chủ chốt./.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202