Tin Kinh tế- xã hội

Triển vọng phục hồi kinh tế Việt Nam sau đại dịch Covid - 19

Cập nhật lúc: 30/09/2021 02:24:00 PM

1.Động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2022-2023

Kỳ vọng trong những tháng cuối năm 2021, với việc quá trình tiêm chủng vắc xin COVID-19 được triển khai nhanh dần trên phạm vi cả nước, năm 2022 được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội phục hồi khả quan hơn cho thị trường lao động, việc làm sau khi các đợt dịch được kiềm chế, cũng như tỷ lệ bao phủ vắc xin tăng lên.

Sự phục hồi tăng trưởng của các thị trường đối tác lớn có thể hỗ trợ gia tăng xuất khẩu của Việt Nam năm 2022. Đại dịch kéo dài vẫn là nguy cơ chủ yếu đối với khả năng phục hồi tăng trưởng kinh tế thế giới, song kỳ vọng đại dịch COVID-19  sẽ được kiểm soát tốt ở trên thế giới trong năm 2022.

EVFTA sẽ là nhân tố tích cực, hỗ trợ kinh tế Việt Nam phục hồi tốt hơn trong năm 2022. EVFTA đã cho thấy tác động khá mạnh đối với xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU kể từ khi hiệp định này chính thức có hiệu lực[1]. Ngoài ra, với việc thực thi EVFTA, Việt Nam có thể kì vọng vào các tác động từ FDI và cải cách thể chế, chính sách và năng suất. Xuất khẩu sang thị trường Mỹ và Trung Quốc được kì vọng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung chưa có dấu hiệu cải thiện. Mỹ và Trung Quốc là hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

Đối với dòng vốn FDI, Việt Nam đang cho thấy “sức hấp dẫn” đáng kể đối với các nhà đầu tư quốc tế dựa trên khả năng chống chịu của nền kinh tế trước đại dịch, triển vọng phục hồi sau đại dịch và các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA và RCEP).

Trong nội tại nền kinh tế, tiêu dùng nội địa và đầu tư công vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng trong phục hồi tăng trưởng kinh tế năm 2022. Tiêu dùng nội địa, vốn đóng góp khoảng 68-70% trong GDP, có khả năng phục hồi nhờ yếu tố tâm lý thị trường và thu nhập được cải thiện. Bên cạnh đó, khu vực tư nhân và FDI có cơ hội phục hồi sản xuất kinh doanh nhờ sự hồi phục cả phía cung, phía cầu, sự thích ứng của khu vực doanh nghiệp và các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ.

Khu vực CNXD và dịch vụ được kì vọng đạt mức tăng trưởng cao hơn từ mức tăng trưởng thấp của năm 2020 nhờ sự phục hồi của thị trường tiêu thụ và các nguồn cung ứng. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, bán buôn, bán lẻ và vận tải, kho bãi được kì vọng phục hồi mạnh, trở lại vai trò dẫn dắt, động lực cho tăng trưởng kinh tế năm 2022.

2.Thách thức và khó khăn đối với kinh tế Việt Nam 2022-2023

Quá trình phục hồi tăng trưởng kinh tế năm 2021 đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhiều điểm nghẽn, nút thắt cần được giải quyết. Kinh tế thế giới và các nền kinh tế đối tác quan trọng chưa thực sự thoát khỏi khó khăn. Diễn biến của COVID-19 có thể còn phức tạp và khó lường. Tác động của các chính sách kích thích kinh tế khá hạn chế. Triển vọng đầu tư không đồng đều, đầu tư tư nhân vẫn yếu. “Sức khỏe” của doanh nghiệp không dễ dàng hồi phục ngay sau thời gian dài khó khăn. Sức ép lạm phát và bất ổn vĩ mô: Từ bên ngoài, các gói cứu trợ mạnh được tung ra.

Kinh tế thế giới và các nước đối tác quan trọng chưa thực sự thoát khỏi khó khăn, quá trình phục hồi không vững chắc và chứa đựng nhiều rủi ro khiến triển vọng gia tăng xuất khẩu, thu hút đầu tư và quá trình phục hồi các chuỗi cung ứng đối với Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Đại dịch COVID-19 kéo dài trên toàn cầu sẽ là nguy cơ lớn nhất. Dịch COVID-19 vẫn đang tiếp diễn nghiêm trọng ở nhiều nước và chưa có dấu hiệu ngừng lại.

Tác động của các chính sách kích thích kinh tế hạn chế, nhiều đối tượng khó khăn trong việc tiếp cận các gói hỗ trợ. Sự kết hợp giữa gói kích thích tài khóa và nới lỏng chính sách tiền tệ có thể mang lại hiệu quả hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế trong 2022.

Việc phục hồi sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có thể phải cần nhiều thời gian hơn. Nhiều DNNVV đã, đang trong tình trạng kiệt quệ do khó khăn kéo dài. Trong đó, khó khăn về tài chính và thị trường tiêu thụ vẫn là các rào cản lớn đối với doanh nghiệp. Việc phục hồi sản xuất, kinh doanh có thể bị cản trở bởi các rủi ro liên quan đến kì hạn trả nợ vay, kì hạn nộp thuế. Bên cạnh đó, đại dịch COVID-19 có sự tác động không đồng đều đến từng lĩnh vực và quy mô doanh nghiệp. Ảnh hưởng nặng nề nhất là những ngành mà mô hình kinh doanh phụ thuộc vào tiếp xúc trực tiếp giữa người với người, đặc biệt là ở quy mô lớn như du lịch, khách sạn, nhà hàng. Tiếp đến là ngành hàng không, ngành công nghiệp giải trí…

3.Các kịch bản dự báo kinh tế Việt Nam năm 2022-2023

Trên cơ sở đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2022-2023 theo 03 kịch bản, như sau:

Kịch bản cơ sở: Kịch bản nhiều khả năng xảy ra nhất hiện nay, theo đó tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam khoảng 5,8% (năm 2022) và 6,54% (năm 2023), CPI trung bình khoảng 3,5% (năm 2022) và 3,6% (năm 2023), diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế thế giới hồi phục, khi đại dịch COVID-19 dần được khống chế. Ở kịch bản này, một số nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản sẽ từ mức tăng trưởng âm năm 2020 đạt mức tăng trưởng dương trở lại. Tăng trưởng của Mỹ giả định đạt 3-3,5%; tăng trưởng của Trung Quốc sẽ phục hồi trở lại với giả định tăng trưởng ở mức 5%.

Kịch bản tăng trưởng cao: Tăng trưởng kinh tế bình quân năm của Việt Nam năm 2022 có thể đạt 6,7% (năm 2022) và 7,03% (năm 2023), CPI trung bình khoảng 4,5% (năm 2022) và 4,7% (năm 2023) . Kịch bản này cũng có thể xảy ra trong điều kiện kinh tế thế giới phục hồi nhanh khi dịch bệnh trên thế giới hoàn toàn được khống chế. Tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ đạt trên 3,5%. Ở kịch bản này, kinh tế Trung Quốc có thể đạt mức tăng trưởng 6%. Các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trở lại quỹ đạo bình thường ngay trong năm 2022. Thêm vào đó, tận dụng được những lợi thế từ các hiệp định thương mại, luồng vốn đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước sẽ khởi sắc trở lại.

Kịch bản tăng trưởng thấp: Tăng trưởng kinh tế bình quân năm của Việt Nam năm 2022 có thể đạt 5,2% (năm 2022) và 6% (năm 2023), CPI trung bình khoảng 3% (năm 2022) và 3,2% (năm 2023). Kịch bản này tuy ít nhưng vẫn có khả năng xảy ra khi tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên thế giới, đi theo với đó là những biến chủng mới của đại dịch Covid-19 khiến cho nhiều nước khó khăn trong kiểm soát đại dịch. Khi đó, tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng có thể bị ảnh hưởng mặc dù đã kiểm soát tốt đại dịch COVID-19 ở trong nước.

4.Các giải pháp, chính sách thúc đẩy phục hồi kinh tế

- Hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất: Đẩy nhanh việc thực hiện gói chính sách hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động và các đối tượng gặp khó khăn do COVID-19. Nghiên cứu, rà soát giảm một số loại phí, lệ phí; chi phí đầu vào sản xuất: chi phí lãi vay, giảm chi phí logistics (giãn, miễn phí BOT tại các vùng động lực trong khoảng thời gian nhất định); Sớm công bố gói hỗ trợ với khu vực doanh nghiệp cho năm 2021 và có thể kéo dài đến nửa năm 2022 để tạo kỳ vọng cho đầu tư từ khu vực doanh nghiệp. Ngân sách các địa phương có thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong chi phí xét nghiệm. Nghiên cứu giảm kinh phí công đoàn, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và lớn.

- Theo dõi và kiểm soát lạm phát: Rủi ro lạm phát hiện nay chủ yếu từ nguyên nhân chi phí đẩy, do đó, cần quan tâm hơn đến các giải pháp giảm chi phí đầu vào cho sản xuất (như chi phí lãi vay) để giảm giá thành và mặt bằng giá.

- Thúc đẩy giải ngân đầu tư công. Tập trung tháo gỡ những vướng mắc thể chế đầu tư công, xây dựng, bồi thường, giải phóng mặt bằng; điều chỉnh sớm kế hoạch vốn giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ giải ngân tốt, còn thiếu vốn.

- Thúc đẩy xuất nhập khẩu, thực thi hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do CPTPP, EVFTA: Nhanh chóng phục hồi sản xuất và tập trung ưu tiên các hoạt động xúc tiến xuất khẩu vào các thị trường xuất khẩu có tăng trưởng xuất khẩu tốt trong 7 tháng đầu năm như Hoa Kỳ, EU; tận dụng tối đa lợi thế từ các FTA mà Việt Nam đã tham gia ký kết; nắm bắt thông tin thị trường và cảnh báo sớm các vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam như sự thay đổi chính sách của nước nhập khẩu, các rào cản kỹ thuật, rủi ro trong thanh toán. Tiếp tục đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường nhỏ và thị trường ngách cùng với đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm xuất khẩu.

- Đẩy nhanh quá trình cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh. Cải cách thể chế, đặc biệt là cải thiện môi trường kinh doanh được đánh giá là yếu tố cốt lõi và quan trọng nhất tạo động lực mới cho kinh tế nền tăng trưởng. "Cải cách thể chế, môi trường kinh doanh là động lực mang tính nền móng, căn bản cho phát triển", nền móng tốt, tăng trưởng mới có thể bứt phá và bền vững.

- Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trên cơ sở tận dụng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế số. Đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại các ngành sản xuất và dịch vụ. Trong đó, ưu tiên phát triển các ngành có mức độ sẵn sàng cao với CMCN 4.0, như: công nghệ thông tin, điện tử - viễn thông, công nghiệp chế tạo thông minh, tài chính – ngân hàng, thương mại điện tử, du lịch số, y tế và giáo dục. Thúc đẩy mô hình nông nghiệp hiện đại dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vũng. Trong công nghiệp, phát triển công nghệ thông tin là chủ đạo, công nghiệp chế biến, chế tạo đặc biệt là công nghiệp chế tạo thông minh là trung tâm. Hình thành các cụm công nghiệp liên kết, cụm công nghiệp theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế, hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao.

- Tận dụng tối đa các cơ hội, các lợi ích bắt kịp từ CMCN 4.0 để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động.  Tận dụng các cơ hội từ CMCN 4.0 để thúc đẩy khoa học công nghệ và nâng cao năng suất lao động trở thành vũ khí quan trọng. COVID-19  là cú huých cho quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam.

- Tận dụng các lợi thế và cơ hội từ việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cơ hội từ các xu hướng kinh tế thế giới, đồng thời chủ động ứng phó với các ảnh hưởng tiêu cực bởi cạnh tranh thương mại và xung đột thương mại. Việc tham gia các FTA thế hệ mới tạo ra cơ hội rất lớn cho Việt Nam mở rộng thị trường và thu hút đầu tư. Để tận dụng và khai thác các cơ hội này, Chính phủ cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có sự chuẩn bị tốt về công nghệ, vốn, thông tin và khả năng kết nối với các doanh nghiệp FDI trong sản xuất và cạnh tranh quốc tế. Bên cạnh đó, cải thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện thế chế, nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu quản lý của Nhà nước, nâng cao cạnh tranh quốc gia tiếp tục là những giải pháp có tính quyết định. Việt Nam cũng cần chủ động hơn trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ. Nghiên cứu khả năng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, các hàng rào phi thuế quan theo đúng quy định của WTO và các FTA đã ký kết để hỗ trợ bảo vệ sản phẩm trong nước trước áp lực cạnh tranh của sản phẩm nhập khẩu, cũng như tăng cường khả năng hạn chế các mặt hàng kém chất lượng. Đồng thời, những hàng rào kỹ thuật và yêu cầu cao hơn về chất lượng ở các thị trường phát triển g đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh, khả năng thích ứng và đổi mới khoa học công nghệ.

- Tăng mạnh đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ để tận dụng cơ hội do CPTPP, EVFTA, các hiệp định thương mại tự do khác mang lại, thu hút dòng FDI chất lượng cao và gia tăng hàm lượng nội địa trong CNCBCT. Việt Nam cần tập trung phát triển ngành công nghiệp phụ trợ nội địa. Hiện nay, các tập đoàn, công ty lớn hoạt động ở Việt Nam đều có chuỗi cung ứng riêng (chủ yếu là doanh nghiệp FDI) cung cấp sản phẩm linh kiện. Tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia các chuỗi cung ứng đó còn khiêm tốn do khả năng đáp ứng về yêu cầu chất lượng kém; thông tin giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài rất mỏng; doanh nghiệp nước ngoài e ngại khi ký kết hợp đồng với các nhà thầu phụ Việt Nam do môi trường pháp lý chưa thực sự thuận lợi và nỗi lo bị phá vỡ hợp đồng. Công nghiệp phụ trợ yếu không chỉ hạn chế cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước mà còn làm giảm tính hấp dẫn trong thu hút vốn FDI.

Lựa chọn chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu phù hợp với lợi thế của đất nước và tình hình thực tiễn thị trường xuất khẩu. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với tất cả các nước, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực thông qua tăng cường đàm phán và ký kết các FTA, EPA song phương và khu vực. Thực hiện tái cơ cấu thị trường xuất khẩu theo hướng tương đối cân bằng giữ các khu vực thị trường nhằm giảm bớt rủi ro so với việc quá tập trung vào một khu vực thị trường xuất khẩu nào đó. Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm theo cả chiều rộng và chiều sâu. Hàng hóa xuất khẩu được cơ cấu theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế, tăng tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng chế biến cao nhằm nâng cao giá trị hàng xuất khẩu. Chú trọng xây dựng chiến lược tiêu thụ, quảng bá, phát triển thương hiệu trong và ngoài nước.

- Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia đẩy mạnh phát triển nền tảng công nghệ. Vai trò của công nghệ ngày càng quan trọng, đó dó, cần có những giải pháp triệt để hơn trong việc hỗ trợ những doanh nghiệp phát triển nền tảng công nghệ, đặc biệt tập trung vào nhóm DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ, khuyến khích các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ trong sản xuất.

- Thúc đẩy tiêu dùng nội địa: Ổn định tâm lý người dân: kiểm soát dịch bệnh nhanh để dần đưa cuộc sống của người dân trở lại bình thường. Điều này đòi hỏi các giải pháp phòng chống dịch bệnh cần được thực hiện chặt chẽ, đồng thời cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trước các hoạt động bảo vệ cộng đồng. Triển khai nhanh chiến dịch tiêm chủng vắc xin trong những tháng cuối năm. Chính phủ thực thi các biện pháp trợ cấp, hỗ trợ thu nhập như giảm thuế thu nhập tạm thời, hoãn hoặc giảm thuế doanh nghiệp…

--------------------------------------------

[1] EVFTA chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ 01/8/2020

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202