Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Nhiệm vụ của tổ chức cung ứng, sử dụng nước và người dân trong đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia

Cập nhật lúc: 05/10/2021 10:58:00 AM

Là một quốc gia có tài nguyên nước (TNN) phụ thuộc vào các quốc gia láng giềng cũng như chịu tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), Việt Nam cần có những giải pháp thích ứng phù hợp nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước (ANNN) trong dài hạn. Theo đó, mỗi một chủ thể, tổ chức, cá nhân cũng như cộng đồng đều có trách nhiệm bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn TNN quốc gia. Bên cạnh chủ thể nhà nước, các chủ thể khác như tổ chức cung ứng và sử dụng nước, người dân cũng cần nâng cao trách nhiệm của mình trong việc đảm bảo và sử dụng bền vững nguồn nước trong bối cảnh thách thức của BĐKH. Ngoài ra, giải pháp truyền thông, giáo dục là rất cần thiết nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của nước sạch cũng như thực hành sử dụng tiết kiệm nguồn nước.

1.Đối với tổ chức cung ứng dịch vụ nước

Để đảm bảo cung ứng nước cho nhu cầu sử dụng nước trong bối cảnh thách thức của BĐKH, một số giải pháp cần thực hiện gồm:

2.Đối với cá nhân, tổ chức sử dụng nước

Theo Bộ Xây dựng, tỷ lệ thất thoát nước ở Việt Nam khá cao, trung bình khoảng 22,5%. Do đó, giảm thiểu tỷ lệ thất thoát nước là việc làm cấp bách trong bối cảnh thiếu hụt nước ngày càng gia tăng. Việc tiết kiệm nước sẽ làm giảm lượng phát thải khí nhà kính do năng lượng tiêu thụ trong các trạm cấp nước và nhà máy xử lý nước thải giảm (Theo Griffiths-Sattenspiel và Wilson (2009), Việt Nam sẽ tiết kiệm được 313 triệu kWh và lượng CO2 theo đó giảm khoảng 225.000 metric ton nếu tỷ lệ thất thoát nước giảm 5%). Vì vậy, để đảm bảo ANNN, đối với tổ chức sử dụng TNN, cần khuyến khích việc áp dụng công nghệ tiết kiệm nước, xử lý và tái sử dụng nước thải qua xử lý. Cụ thể:

2.2.1. Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiết kiệm nước hiệu quả

Cần tiết kiệm nước tưới trong nông nghiệp bởi nước dùng trong nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao (từ 70%-85% tổng lượng nước sử dụng). Hiện phương pháp Quản lý tưới ngập khô xen kẽ (AWD) được đánh giá có tiềm năng làm giảm mức sử dụng nước xuống 30-50% lượng nước sử dụng. Phương pháp này đồng thời cũng làm giảm phát thải khí CH4[1] trung bình 48% (Basak 2016). Tuy nhiên, để thực hiện được phương pháp này cần phải giúp người nông dân nhận thức được lợi ích kinh tế rõ ràng của phương pháp AWD, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật và có các chính sách khuyến khích nông dân áp dụng AWD. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng hệ thống thủy lợi cần được đầu tư cải thiện nhằm có thể áp dụng được phương pháp AWD. Bên cạnh đó, có thể học tập phương pháp tiết kiệm nước trong nông nghiệp đã áp dụng thành công ở một số nước trên thế giới. Chẳng hạn như ở Trung Quốc đã áp dụng chương trình hiện đại hóa các hệ thống thủy nông đã giúp cải thiện đáng kể lượng nước sử dụng trong nông nghiệp.

Đối với một số cây trồng ở một số địa phương, người nông dân có thể áp dụng phương pháp gây hạn có chủ ý, tức là gây hạn một cách cưỡng bức cho cây, hạn chế nước tưới vào rễ. Theo phương pháp này, tưới theo lịch và tưới có mục tiêu có thể làm giảm đáng kể lượng nước sử dụng nhưng lại làm tăng sản lượng cây trồng. Cây cà phê là một ví dụ, nếu giảm lượng nước xuống 150-300 lít/cây/đợt không những tiết kiệm khoảng 500-1000 m3/ha/năm nước tưới mà còn có thể làm tăng năng suất sản lượng cà phê. Nếu ứng dụng toàn bộ 100% diện tích và tiết kiệm nước tối đa có thể giảm được 25% nhu cầu nước. Tuy nhiên, để có thể triển khai rộng rãi phương pháp này, cần phải hỗ trợ người dân bước đầu trong việc đầu tư hệ thống tưới có chủ đích bởi người trồng cà phê là các hộ nông dân nhỏ, việc tăng chi phí giao dịch để thực hiện bất kỳ phương pháp kỹ thuật mới nào cũng là rào cản lớn vì đòi hỏi chi phí ban đầu cao.

2.2.2. Xử lý nước thải và tái sử dụng nước thải đã qua xử lý

Cần tăng cường đầu tư vào xử lý nước thải, coi hoạt động thu gom, xử lý và tái sử dụng nước thải là ưu tiên đầu tư và là cơ hội kinh doanh đối với các đơn vị tư nhân cung ứng dịch vụ nước sạch. Nước thải đã qua xử lý có thể tái sử dụng cho một số hoạt động sử dụng trong đô thị và trong công nghiệp như rửa đường, chữa cháy, tưới công viên, hệ thống cây xanh hoặc cho làm mát và thủy lợi

Tuy nhiên, điều này lại rất khó để thu hút các nhà đầu tư tư nhân nếu không có những thay đổi cần thiết mang lại lợi nhuận cho người đầu tư hoặc phải có nguồn trợ cấp của Chính phủ. Do vậy, cần có sự hỗ trợ từ đầu tư công hoặc có những quy định pháp lý khuyến khích hoạt động thu gom và xử lý nước thải. Đồng thời, nhà nước cần chủ động hợp tác với khu vực tư nhân để xây dựng các phương án lựa chọn tài chính, làm sao để cho hạng mục đầu tư vào xử lý nước thải sinh hoạt trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tư nhân thông qua hình thức tư nhân hóa hoặc hợp tác công tư.

3.Nhóm giải pháp đối với người dân

1.1.Nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước và sử dụng nước hiệu quả

          Đây chính là biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ nguồn nước khỏi nguy cơ ô nhiễm. Có thể bắt đầu từ những việc nhỏ hàng ngày như: vứt rác thải vào đúng nơi quy định, không xả chất độc hại trực tiếp ra ngoài môi trường… Trong đó, nguồn gây ô nhiễm nước nước mặt phần lớn đến từ hậu quả của các hoạt động sản xuất nông nghiệp như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, cũng như các chất thải sinh hoạt. Do vậy, để bảo vệ nguồn nước ở các con sông, cần nâng cao ý thức của người dân trong việc sử dụng đúng cách, đúng liều lượng và đúng thời gian phương thức sử dụng vật tư nông nghiệp nhằm giảm bớt tác hại của nguồn phát tán ô nhiễm từ phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật. Đồng thời, đối với nguồn ô nhiễm từ chất thải sinh hoạt, bên cạnh giải pháp nâng cao nhận thức của người dân cũng cần áp dụng các giải pháp kinh tế mạnh nhằm tạo một sự chuyển biến mạnh hơn, nhanh hơn trong cộng đồng dân cư về bảo vệ môi trường nguồn nước mặt.

1.2.Khuyến khích người dân chủ động tiết kiệm nước

Cần khuyến khích người nông dân trả thêm chi phí vận hành, duy tu, bảo trì hệ thống thủy lợi. Hiện nay, người dân được miễn thủy lợi phí trong sử dụng nước mặt cho nông nghiệp theo Nghị định 67/2012/NĐ-CP. Chính sách này được cho là thiếu tính hiệu quả vì khiến người nông dân không có động cơ tiết kiệm nước hay tối đa hóa hiệu suất sử dụng nước trong khi các công ty quản lý thủy lợi hoạt động vẫn phải dựa vào nguồn ngân sách của Chính phủ. Do đó, việc tăng thủy lợi phí sẽ làm giảm gánh nặng chi phí cho ngân sách nhà nước cũng như giúp nâng cao trách nhiệm và hiệu quả trong việc sử dụng nước cho tưới tiêu nông nghiệp. Đồng thời, thủy lợi phí cao hơn khiến các công ty thủy lợi cung cấp dịch vụ quản lý tưới tiêu cũng tốt hơn.

Ngoài ra, cần hỗ trợ người dân trong việc tiết kiệm nước. Có thể học hỏi kinh nghiệm đã áp dụng ở các nước, chẳng hạn như ở Úc, Chính phủ phối hợp với các công ty cấp nước hỗ trợ người dân tiết kiệm nước bằng các hình thức khác nhau như: cho người dân đổi những vòi hoa sen loại phun nhiều nước bằng loại vòi phun nước trung bình; hỗ trợ kinh phí mua loại bồn cầu vệ sinh loại có nút xả nước tiết kiệm… Bên cạnh đó, các bang ở Úc còn xúc tiến chương trình bồi hoàn phần lớn chi phí mà dân chúng đã dùng cho việc mua sắm trang thiết bị tiết kiệm nước, bồn trữ nước mưa, hệ thống dùng nước tái sinh… sử dụng trong hộ gia đình. Bên cạnh đó, người dân có thể chủ động thực hiện các biện pháp tiết kiệm nước như tận dụng những nguồn nước từ tự nhiên như nước mưa vào việc tưới cây, cọ rửa,… để tránh lãng phí nguồn nước sạch.

4.Nhóm giải pháp truyền thông, giáo dục

          Tiết kiệm nước và sử dụng hiệu quả TNN là giải pháp hàng đầu trong bối cảnh BĐKH, và truyền thông, giáo dục được coi là phương pháp đơn giản và có tác động hiệu quả sâu rộng đối với tất cả các đối tượng sử dụng nước. Một số giải pháp cụ thể bao gồm:

 

Tài liệu tham khảo

  1. Basak, R., 2016, “Benefits and costs of climate change mitigation technologies in paddy rice Focus on Bangladesh and Vietnam”, CAFS Working Paper no. 160. Copenhagen, Denmark: CGIAR Research Program on Climate Change, Agriculture and Food Security (CCAFS).
  2. Griffiths-Sattenspiel, B. and Wilson, W., 2009, “The Carbon Footprint of Water”, River Network, Portland.

 

 

 

 

 


[1] Một trong năm khí nhà kính – nguyên nhân gây BĐKH

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202