Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Tình hình phát triển một số dạng năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Cập nhật lúc: 07/10/2021 10:57:00 AM

Với nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng cao nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế, phát triển các nguồn năng lượng tái tạo được coi là một trong những định hướng quan trọng của Việt Nam trong phát triển ngành năng lượng. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng đặc biệt lớn trong việc khai thác các nguồn Năng lượng tái tạo (NLTT) như: thủy điện, điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối. Tình hình phát triển các dạng NLTT ở nước ta trong những năm gần đây cụ thể:

1. Năng lượng thủy điện

Là quốc gia có nhiều con sông chảy qua địa phận, Việt Nam có tiềm năng dồi dào trong phát triển thủy điện. Hiện nay, thủy điện là nguồn NLTT lớn nhất ở Việt Nam và liên tục phát triển qua các năm. Số nhà máy thủy điện được đưa vào vận hành phát điện năm 2017 là 245 nhà máy thủy điện nhỏ với tổng công suất khoảng 2.380 MW. Sau chỉ 1 năm, số lượng nhà máy đã tăng lên 40 với tổng công suất khoảng 3.322 MW vào năm 2018. Trong khi đó, sản lượng điện năng từ thủy điện đã tăng hơn 3,8 lần từ 22.493 GWh lên 85.940 GWh giai đoạn 2007-2017, chiếm tỉ lệ trên 43,6% sản lượng điện sản xuất năm 2017 (Nguyễn Văn Bình và cộng sự 2020). Đến năm 2019, tỷ lệ này tăng lên 47% trong tổng điện năng sản xuất của Việt Nam.

Tuy nhiên, sản lượng điện từ các nhà máy thủy điện thường không ổn định vì phụ thuộc rất nhiều vào lưu lượng nước đổ về cũng như lượng nước tích ở các hồ thủy điện. Hơn nữa, đến nay, tiềm năng của các nguồn thủy điện vừa và lớn (tiềm năng công suất khoảng 20 GW) đã được khai thác gần hết, tiềm năng thủy điện còn lại chưa được khai thác tương đối nhỏ. Với thủy điện nhỏ, thời gian qua đã khai thác khoảng 50% tiềm năng, các nguồn còn lại ở các vùng sâu, vùng xa, khu vực không thuận lợi, giá khai thác cao. Nguồn thủy điện nhỏ có tổng tiềm năng khoảng 6,7 GW nhưng hơn 3 GW đang được vận hành (EREA&DEA 2019). 

2. Năng lượng gió

Việt Nam có vị trí địa lý tương đối thuận lợi để phát triển khai thác điện gió, nhất là điện gió thương mại. Là quốc gia có năng lượng gió nhiều nhất Đông Nam Á, đặc biệt là các vùng ven biển gần bờ và ngoài khơi phía Nam, năng lượng gió đã có những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực sản xuất điện năng ở Việt Nam chỉ trong vài thập kỷ. Được sự ủng hộ về chính sách của Chính phủ như Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam, tổng công suất của các dự án điện gió những năm gần đây tăng đáng kể, tăng gấp hơn 8 lần chỉ trong vòng gần 5 năm từ 2016-2020 (Hình 1). Trong đó, Nhà máy Điện gió Bạc Liêu là nhà máy điện gió lớn nhất nước ta với tổng công suất đạt 99,2 MW.

Tính đến hết quý 1/2020, có 78 dự án điện gió đã được đưa vào quy hoạch, với tổng công suất khoảng 4.800 MW; 11 dự án đã vận hành phát điện, với tổng công suất 377 MW; và tính đến hết tháng 9/2020, tổng công suất lắp đặt điện gió đã đạt khoảng 485 MW. Số lượng dự án đã ký hợp đồng mua bán điện là 31 dự án với tổng công suất 1.662 MW. Tiềm năng về nguồn năng lượng điện gió tại Việt Nam là rất lớn và theo dự báo sẽ còn tăng trưởng khá mạnh trong thời gian sắp tới. Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại khá nhiều khó khăn để một dự án điện gió có thể phát triển thành công như tài chính, hạ tầng kỹ thuật, nhân lực... Điều này phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ và hợp tác quốc tế trong việc phát triển nguồn năng lượng bền vững này.

3. Năng lượng mặt trời

Đây là dạng năng lượng mà nguồn nhiên liệu của nó liên tục được tái sinh từ những quá trình tự nhiên. Do đó, những năm trở lại đây, năng lượng mặt trời đang được nhiều Chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp ngày càng quan tâm đầu tư, nghiên cứu và triển khai. Tại Việt Nam, điện mặt trời có tiềm năng lớn nhất trong các nguồn năng lượng xanh, với bức xạ Mặt trời vào loại cao trên thế giới, với số giờ nắng dao động từ 1.600-2.600 giờ/năm, đặc biệt là tại khu vực phía Nam.

Nhờ vào các cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời như Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam, các dự án điện mặt trời hiện đang phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam. Số dự án điện mặt trời năm 2017 là 115 dự án với tổng công suất đăng ký là 16.842 MW (Nguyễn Anh Tuấn 2018). Sang năm 2018, số dự án nhà máy điện mặt trời được phê duyệt tăng lên 144 dự án với tổng quy mô công suất là 13.824 MWp (VCEAa 2019). Tính đến hết tháng 6 năm 2019, đã có 82 nhà máy điện mặt trời, với tổng công suất khoảng 4.464 MW được phê duyệt và trực tuyến; và tính tới hết tháng 9/2020, tổng công suất điện mặt trời đã đạt 5.829MW. Riêng điện mặt trời mái nhà, tính đến hết 14/10/2020, cả nước đã có trên 57.000 hệ thống được lắp đặt với tổng công suất 1.747 MWp. Nhờ vậy, năng lượng mặt trời chiếm 8,28% công suất lắp đặt của hệ thống điện Việt Nam (VBF 2019). Các tỉnh tập trung nhiều nhà máy điện mặt trời hiện nay là: Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh. Ninh Thuận hiện có 2 dự án điện mặt trời với quy mô lớn nhất cả nước, với tổng công suất là 534 MW. Trong đó, dự án thứ nhất là cụm 3 nhà máy điện mặt trời BIM có công suất lớn nhất Đông Nam Á. Dự án này dự kiến sản xuất khoảng 600 triệu kWh/năm, phục vụ 200.000 hộ gia đình mỗi năm và góp phần giảm gần 304.400 tấn CO2 thải ra môi trường mỗi năm (VCEAb 2019).

Mặc dù nguồn năng lượng mặt trời ở Việt Nam đang được các nhà đầu tư quan tâm và các dự án sử dụng điện năng lượng mặt trời ở Việt Nam đang ngày càng thu hút nhiều sự chú ý, quy mô phát triển của năng lượng mặt trời nhìn chung hiện vẫn còn nhỏ. Điều này một phần do yêu cầu về chi phí khá lớn trong lắp đặt, và đặc điểm kỹ thuật “điện mặt trời sẽ không vận hành khi không có nắng”, từ đó gây cản trở đến việc tốc độ phát triển của các dự án. Vì vậy, rất cần có những cơ chế hỗ trợ và khuyến khích để các doanh nghiệp cũng như các hộ gia đình có thể chủ động tham gia vào phát triển thị trường NLTT tiềm năng này.

4. Năng lượng sinh khối

Năng lượng sinh khối sử dụng các phế phẩm từ nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, vỏ, xơ bắp, v.v...), phế phẩm lâm nghiệp (lá khô, vụn gỗ, v.v...), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lý nước thải, phân từ các trại chăn nuôi gia súc và gia cầm. Với lợi thế một quốc gia nông nghiệp, Việt Nam có nguồn sinh khối lớn và đa dạng từ gỗ củi, trấu, bã cà phê, rơm rạ và bã mía. Hàng năm tại Việt Nam có gần 60 triệu tấn sinh khối từ phế phẩm nông nghiệp, trong đó 40% được sử dụng đáp ứng nhu cầu năng lượng cho hộ gia đình và sản xuất điện. Hiện nay, 90% sản lượng sinh khối được dùng để đun nấu. Sinh khối được sử dụng ở hai lĩnh vực chính là sản xuất nhiệt và sản xuất điện. Ở các vùng nông thôn, năng lượng sinh khối vẫn là nguồn nhiên liệu chính để đun nấu cho hơn 70% dân số nông thôn. Đây cũng là nguồn nhiên liệu truyền thống cho nhiều nhà máy sản xuất tại địa phương như sản xuất thực phẩm, mỹ nghệ, gạch, sứ và gốm.

Nhận thức được tầm quan trọng của năng lượng sinh khối, Chính phủ Việt Nam đã ban hành cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối theo Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg. Nhờ đó, các nhà máy điện sinh khối được chú trọng đầu tư, nhiên liệu sinh học trở nên phổ biến; khí sinh học biogas từ tận thu các phế thải trong nông nghiệp được ứng dụng rộng rãi; rác thải, chất thải rắn dùng làm nhiên liệu phát điện đã góp phần bảo vệ môi trường. Trong đó, ngành mía đường là ngành có tiềm năng rất lớn về năng lượng sinh khối, với tiềm năng Theo Hiệp hội mía đường Việt Nam, t2019, Việt Nam đã có 10 nhà máy điện sinh khối với tổng công suất nối lưới khoảng 212 MW (VCEAc 2019).  

Tuy nhiên phần đóng góp này của sinh khối đang ngày càng giảm dần trong giai đoạn 2007-2017, từ 14.870 TOE năm 2007 xuống còn gần 8.000 TOE năm 2017. Sự sụt giảm này là do các dạng năng lượng hiện đại khác như khí hoá lỏng LPG đã được đưa vào sử dụng.

Có thể nói, thực trạng khai thác NLTT nói chung và từng dạng NTLL nói riêng tại Việt Nam còn rất nhỏ so với tiềm năng (trừ thủy điện). Các nguồn năng lượng như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh khối và năng lượng chuyển hóa từ rác thải cũng đã bắt đầu phát triển trong khi năng lượng địa nhiệt và năng lượng thủy triều vẫn còn ở giai đoạn non trẻ và chưa được khai thác nhiều dù có tiềm năng lớn1. Vì vậy, trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tăng cao như hiện nay và dự báo thiếu hụt năng lượng trong thời gian tới, cần có giải pháp kịp thời để nâng mức phát triển NLTT cao hơn đối với các nguồn có nhiều tiềm năng nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong Chiến lược Phát triển năng lượng tái tạo, cũng như Quy hoạch điện VII điều chỉnh, qua đó góp phần đảm bảo ANNL quốc gia, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước.

Note: 1- Việt Nam có tiềm năng khai thác năng lượng thủy triều cao do có rất nhiều vũng, vịnh, cửa sông, đầm phá và đặc biệt là có đường bờ biển dài trên 3.200km và tiềm năng địa nhiệt với khoảng 264 nguồn, suối nước nóng phân bố tương đối đều trên cả nước với nhiệt độ trung bình từ 70-100oC ở độ sâu 3km.

---------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

  1. Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (EREA) & DEA (Cục Năng lượng Đan Mạch), 2019, “Báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam 2019”.
  2. GGGI (Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu) và Tổ chức hợp tác quốc tế Đức (GIZ), 2018, “Tạo sự hấp dẫn cho năng lượng sinh khối trong ngành mía đường ở Việt Nam” – Báo cáo chuyên sâu số 1/Việt Nam, Hàn Quốc.
  3. Nguyễn Anh Tuấn, 2019, “Phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam: Vì sao còn ‘mắc kẹt’?”, Tạp chí Năng lượng Việt Nam.
  4. Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 2020, “Định hướng Chiến lược phát triển Năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (sách tham khảo)”, Ban Kinh tế Trung ương, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân.
  5. VBF (Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam), 2019, “Kế hoạch Năng lượng sản xuất tại Việt Nam”.
  6. VCEAa, 2019, “EVNNPT sẽ đảm bảo truyền tải công suất điện từ các dự án năng lượng tái tạo”, Tạp chí Năng lượng sạch Việt Nam, số 28, tháng 01/2019, p.12-14
  7. VCEAb, 2019, “Năng lượng sạch hấp dẫn doanh nghiệp tư nhân”, Tạp chí Năng lượng sạch Việt Nam, số 32, tháng 5/2019, p.8.
  8. VCEAc, 2019, “Tiết kiệm năng lượng bảo vệ Trái đất”, Tạp chí Năng lượng sạch Việt Nam, số 30, tháng 3/2019, p.7.

 

 
Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202