Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Xu hướng gia tăng trong chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn Việt Nam

Cập nhật lúc: 25/10/2021 03:14:00 PM

Cùng với quá trình phát triển kinh tế, tình trạng chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng. Hệ số giãn cách thu nhập[1] của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018 ngày càng tăng cao, năm 2010 hệ số này là 9,2 lần nhưng đến năm 2018 đã ở mức 10 lần, tức là tăng gần 8,7% so với năm 2010. Trong khi, mức thu nhập vốn đã chênh lệch theo hướng ngày càng tăng, thì nhóm thu nhập thấp lại có tốc độ tăng thu nhập chậm và ít hơn các nhóm khác. Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê, mức tăng thu nhập của Nhóm 1 chủ yếu từ nông nghiệp (do tỷ lệ lao động trong nhóm chủ yếu làm nghề nông nghiệp tự làm)[2] trong khi đó mức tăng thu nhập của Nhóm 5 chủ yếu từ công việc hưởng tiền lương, tiền công và công việc tự làm. Các hoạt động công nghiệp, xây dựng, dịch vụ có đóng góp hầu như không đáng kể vào tổng thu nhập của Nhóm 1.

Năm 2020, hệ số giãn cách thu nhập của cả nước cũng như tại vùng thành thị và nông thôn đều giảm do gặp cú sốc dịch bệnh Covid-19. Trong bối cảnh dịch bệnh, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, doanh thu kém, người giàu giảm thu nhập. Trong khi đó, người nghèo được nhận những khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước thông qua những chính sách trợ cấp khó khăn. Tuy nhiên, mức giảm của hệ số giãn cách cũng không đáng kể (xem hình 1). Do đó, nguy cơ bất bình đẳng trong thu nhập khi khống chế được dịch bệnh sẽ trở nên đáng lo ngại.

Hình 1. Hệ số giãn cách thu nhập của Việt Nam phân theo thành thị - nông thôn giai đoạn 2010 – 2020

Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình, Tổng cục Thống kê

 

Đối với khu vực thành thị, hệ số giãn cách thu nhập không thay đổi nhiều và có xu hướng giảm xuống. Trong khi đó, đối với khu vực nông thôn, hệ số giãn cách ở khu vực nông thôn lại có xu hướng tăng nhưng với tốc độ tăng chậm. Điều này có thể được giải thích rằng, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và khả năng tiếp cận thông tin của mọi người trong xã hội được nâng cao. Người lao động ở khu vực thành thị thường có trình độ giáo dục cũng như có tay nghề cao hơn nên họ có nhiều lựa chọn hơn cho công việc của mình cũng như đàm phán được mức lương tương xứng. Đồng thời, các doanh nghiệp có những chế độ đãi ngộ tốt để thu hút và giữ được lao động có trình độ. Theo cách này, thành quả tăng trưởng xã hội được phân phối đều hơn tới người lao động khiến cho khoảng cách thu nhập ở khu vực thành thị dần được thu hẹp lại. Trong khi đó, trình độ dân trí ở khu vực nông thôn nhìn chung còn chưa phát triển nhanh và mạnh, dẫn đến việc tiếp cận thông tin còn hạn chế dù có sự cải thiện hơn nhiều so với những năm trở về trước. Do đó, lao động khu vực nông thôn bị bó hẹp trong một số ngành nghề giản đơn và ít có cơ hội để đàm phán được mức lương mong muốn. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận các cơ hội việc làm tốt hơn cũng phát triển không đồng đều giữa các đối tượng lao động ở khu vực nông thôn bởi một số đối tượng có sự vượt bậc với trình độ đào tạo cao hơn. Điều này làm cho khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm đối tượng lao động ở khu vực nông thôn ngày càng giãn ra. Tuy nhiên, nếu xét trong nội bộ từng khu vực, mức tăng thu nhập giữa nhóm thấp nhất và cao nhất ở khu vực thành thị nhỉnh hơn một chút so với mức tăng thu nhập giữa các nhóm ở khu vực nông thôn. Vì vậy, chính sách nên hướng về nông thôn cần phải xem xét hướng đầu tư vào ngành nào mà giải quyết được nhiều lao động ở nông thôn.

Bảng 1. Thu nhập bình quân/người/tháng khu vực thành thị và nông thôn phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020

 Đơn vị: Nghìn đồng

Năm

Khu vực

Bình quân

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

(1)

(2)

2010

Thành thị

2130

2130

1154

1612

2268

4983

2854

7.9

Nông thôn

1070

330

568

821

1175

2462

2132

7.5

2012

Thành thị

2989

952

1672

2333

3198

6794

5843

7.1

Nông thôn

1579

450

818

1228

1789

3615

3165

8

2014

Thành thị

3965

1267

2179

2922

4034

9421

8154

7.4

Nông thôn

2038

565

1082

1611

2295

4641

4076

8.2

2016

Thành thị

4551

1452

2511

3436

4743

10623

9171

7.3

Nông thôn

2423

667

1233

1865

2706

5644

4977

8.5

2018

Thành thị

5624

1802

3164

4366

6235

12555

10754

7

Nông thôn

2987

796

1488

2342

3380

6935

6139

8.7

2020

Thành thị

5538

2108

3491

4687

6212

11192

9084

5.3

Nông thôn

3480

932

2009

2966

4054

7440

6508

7.9

Ghi chú: (1) Khoảng cách Nhóm 5 và Nhóm 1; (2) Số lần chênh lệch giữa Nhóm 5 và Nhóm 1.

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo hàng quý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Số liệu Bảng 1 cho thấy, thu nhập ở cả thành thị và nông thôn đều có xu hướng tăng, hệ số chênh lệch giữa hai khu vực này đang có xu hướng giảm xuống. Chênh lệch thu nhập giữa Nhóm 5 và Nhóm 1 ở thành thị thấp nhất là 7,41 lần và cao nhất là 8,28 lần và có xu hướng ngày càng giảm; ở khu vực nông thôn thấp nhất là 6,91 lần và cao nhất là 8,5 lần và sự chênh lệch này có xu hướng tăng lên. Ở khu vực nông thôn, khi kinh tế ngày càng phát triển, sự thay đổi về cơ cấu lao động trong các ngành nghề ở khu vực này ngày càng lớn dẫn đến khoảng cách thu nhập giữa Nhóm 5 và Nhóm 1 ngày càng lớn. Số lần chênh lệch thu nhập giữa Nhóm 5 và Nhóm 1 ở khu vực thành thị có xu hướng giảm, ở nông thôn có xu hướng tăng, cho thấy mức bất bình đẳng thu nhập trong khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị khi nền kinh tế phát triển. Một trong những nguyên nhân của vấn đề này là hiện tượng người dân không có đất và mất đất cho các dự án công nghiệp, sân golf, căn hộ, biệt thự…Người nông dân không có đất cũng đồng nghĩa với việc họ mất đi nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp. Giá đất tăng lên dẫn tới chênh lệch thu nhập tăng lên. Cùng với đó là việc di cư từ nông thôn ra thành thị để tìm việc làm cải thiện thu nhập làm tăng chênh lệch giữa gia đình có người di cư và gia đình không có người di cư.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Oxfam, 2018a. , “Đãi ngộ người lao động, không phải nhóm siêu giàu.”
  2. Nguyen, M.H., Nguyen, D.L., and Pham, T.K., 2019. “The Impact of Urbanization on Income Inequality: A Study in Vietnam,”, Journal of Risk and Financial Management, vol. 12, issue 146.
  3. Tổng cục Thống kê, 2020a. Chuyên khảo “Di cư và đô thị hóa ở Việt nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt”, kết quả từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, NXB Tài chính.
  4. Tổng cục Thống kê, 2020b. Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm năm 2020
  5. Tổng cục Thống kê, 2021b. Niên giám thống kê 2020

 


[1] Hệ số giãn cách thu nhập được tính bằng tỉ số giữa thu nhập của 20% dân số có thu nhập cao nhất trên thu nhập của 20% dân số có thu nhập thấp nhất. Hệ số này càng lớn, tình trạng bất bình đẳng càng cao. 

[2] Đã nêu ở phần 1.a theo số liệu của VHLSS 2018

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202